Thời đại công nghệ cao, kỹ thuật tân tiến, trí tuệ nhân tạo (AI) được áp dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời sống như thế này. Con người ngày nay có Internet, có mạng xã hội và nhiều phương tiện để vui chơi nên chẳng còn mấy ai đọc sách. Văn chương chữ nghĩa nói chung, thơ ca nói riêng giờ đã nhạt nhòa đi rất nhiều, phai màu nhạt vị hơn bao giờ hết. Con người ngày nay không còn cái thú, cái văn hóa đọc như lớp cha anh ngày trước. Văn chương – thơ ca trở nên lạc loài và cô đơn trong buổi chợ chiều.
Thơ ca ngày xưa được xếp vào một trong bảy bộ môn nghệ thuật
của loài người, đã có một thời gian dài thơ ca vinh quang rạng rỡ trong nhiều nền
văn minh của nhân loại. Con người từ thượng lưu cho đến bình dân đều yêu thích.
Bên Đông hay bên Tây cùng tụng ca. Thơ ca một thuở là tiếng lòng, là tâm hồn của
bao thế hệ. Thơ dù có thiên về nghệ thuật hay thiên về nhân sinh cũng đều chuyển
tải cái đẹp, cái nhân văn của con người. Thơ là tiếng nói phản kháng, là tấm
gương phản ảnh hiện thực xã hội. Thơ là khúc ca khải hoàn, tiếng gọi non sông…
Vị nghệ thuật hay vị nhân sinh đều trọn trong lòng xã hội, xuất phát từ tâm ý
con người. Thơ có rộng – hẹp, sâu – cạn, thô – tế…vì nó là sản phẩm của con người.
Thơ phản ảnh trí tuệ, trình độ, tâm hồn, bản lãnh, nhân cách của người viết
ra.
Thơ thay đổi và tiến triển theo đà phát triển của xã hội. Đã
một thời thơ cổ: Đường luật, Thất ngôn bát cú, ngũ ngôn, lục bát, song thất lục
bát, haiku, yết hậu…thống trị cả ngàn năm. Rồi phong trào thơ mới phát triển đã
thổi một luồng không khí mới vào thơ ca. Hình thức mới đã đẩy lùi thơ cổ: Sự tự
do, phóng khoáng thay cho cái xơ cứng của niêm luật, điển cố; phá bỏ cái gò bó
của thể thức, sự cấm kỵ của đề tài, cái hẹp hòi của quan điểm… Thơ mới dần dần
chiếm lĩnh thi đàn.
Hôm nay thơ lại tiếp tục có những xung động mới. Những trường
phái mới từ phương Tây đang diễn ra, tuy nhiên sức hấp dẫn và sự thuyết phục dường
như chưa đủ mạnh để có thể làm một cuộc cách mạng như phong trào thơ mới ở đầu
thế kỷ hai mươi. Những trường phái thơ hiện đại với cái tên rất kêu, tỷ như: Hiện
đại, hậu hiện đại, tân cổ điển, khả ly, phúng dụ, trừu tượng, đa phương, bí ẩn,
bí hiểm…Đi cùng các trường phái thơ hiện đại là những thuật ngữ triết học
phương Tây khá rối rắm cao siêu. Điểm chung của những thể thơ hiện đại này là
phá bỏ quy tắc ngữ pháp căn bản, không chấp nhận ngữ pháp tối thiểu (chẳng hạn
không viết hoa tên riêng hoặc viết hoa bất kỳ ký tự nào, nếu thấy thích), tùy ý
ngắt dòng hoặc chẳng cần ngắt dòng, viết tràn giang đại hải nhưng không xài dấu
chấm câu, có khi thì dấm dẳng từng chữ một, nội dung thì tù mù đánh đố, ai muốn
hiểu sao thì hiểu… Rất nhiều những bài thơ thể loại này đọc lên tuôn tuột như
xe đứt thắng, lại có bài đọc cứ cọc cạch như xe xì lốp chạy trên đường sỏi
đá…Thơ của những trường phái hiện đại này khó mà tạo được làn sóng mới trong giới
thơ ca chứ chưa nói đến tầng lớp bình dân.
Trong các thể thơ cũ, có lẽ thơ lục bát là dễ làm nhất nhưng
khó hay, người trong ngoài giới ai cùng có thể tùy hứng viết được. Thơ lục bát
tuy cũ, thiếu sự bóng bẩy, thiếu yếu tố hiện đại – tân thời hay hơi hướm Tây
phương… nhưng lại rất gần gũi với dân chúng. Thơ lục bát có tính dân tộc sâu đậm
nhất, thể hiện cái văn hóa Việt, bản sắc Việt…
Theo cái đà suy thoái chung của văn chương chữ nghĩa, thơ lục
bát dẫu có phai nhưng vẫn chưa tàn; dẫu có cũ thậm chí lạc hậu đối với giới Tây
học hoặc hàn lâm nhưng chí ít nó vẫn thân thuộc với đại chúng bình dân. Tộc Việt
còn, văn hóa Việt còn, bản sắc Việt còn… thì chừng ấy thơ lục bát vẫn còn. Giả
sử có một ngày nào đó không còn ai làm thơ lục bát nữa thì dân gian vẫn tiếp tục
với những câu ca dao, hò, vè… bằng thể thơ lục bát.
Tập thơ Tạ Ơn này cũng như những tập thơ lục bát trước đó được
viết trong những khoảnh khắc cao hứng và viết với thời gian cực nhanh. Dù
cao hứng nhưng gã du tử giữ hình thức và nội dung theo đúng truyền thống nhất,
có thể bị cho là lạc hậu - bảo thủ… nhưng không sao, vì vốn tự nhiên như thế!
Đây cũng có thể xem như những lời tình tự dân tộc, lời ca đất nước quê hương, lời
thương lời nhớ… thấm đẫm chất Việt. Ngôn lời thơ bình dị, tuy nhiên có nhiều từ
Hán – Việt vì có lẽ bị lậm sâu vào trong tư duy. Có một điều là gã du tử không
hề làm màu nên thiếu trau chuốt, không bóng bẩy… Lời thơ cứ như thể chính con
người của tác giả.
Ngày nay thơ đã phai đi nhiều nhưng vẫn chưa tàn. Dù có thế
nào đi nữa thì với người Việt và nước Việt thì thơ lục bát vẫn chưa thể mất,
không thể mất, chí ít là với những con người còn yêu thích văn hóa Việt, truyền
thống Việt; còn rung động với tình tự dân tộc, lời thương lời nhớ quê hương, xứ
sở, con người.
Ất Lăng thành, 2025
