Thăng Long đầu thế kỷ XVIII, đất Kinh kỳ đang ở vào thời giao thoa rực rỡ giữa văn minh Đông phương và sự trỗi dậy của tầng lớp nho sĩ khoa cử. Làng Dịch Vọng nằm phía Tây kinh thành, nổi tiếng không chỉ với truyền thống học hành mà còn là nơi tổ chức các hội làng lớn mỗi độ xuân về. Đây là vùng đất giao hòa giữa nếp sống nho phong và dòng chảy nghệ thuật truyền thống – nơi ca trù và đào hát được kính trọng như một phần tinh thần cao quý. Mỗi mùa hội làng Dịch Vọng về, khắp ngả đường kinh thành lại rộn ràng tiếng trống hội, mùi hương trầm và bóng áo tứ thân sẫm nâu thấp thoáng quanh các dãy lều vải. Năm ấy, giữa sân đình phủ đầy nắng chiều, một đào nương xuất hiện. Cô mặc áo dài thiên thanh, mái tóc chải mượt buông nhẹ sau lưng, tay ôm chiếc đàn nguyệt cũ. Giọng hát cô cất lên như luồng gió mát giữa trời hè oi ả – vừa trầm buồn, vừa tha thiết, ngân dài theo nhịp phách buông.
Tên cô là Diễm
Hương. Có người còn gọi cô là Cô Đào họ Nguyễn. Cô đẹp, nhưng không phải cái đẹp
rực rỡ. Cô đẹp theo thần thái bức tranh thủy mặc, vừa gần vừa xa, vừa muốn với
mà vừa sợ chạm. Là một đào hát nức tiếng, cô biết giữ khoảng cách vừa phải.
Không bao giờ cười quá lớn, không để mắt ai nhìn quá lâu, không ai có thể chạm
tay vào người, vào mái tóc cô – có chăng là tiếng đàn tiếng thơ.
Hôm ấy, khi cô
đang ngân một câu trong bản Tỳ Bà Hành, đôi mắt cô bất chợt dừng lại
ở một chàng trai trẻ đứng nép sau cột đình. Thân hình cậu gầy gò, mặc áo nâu sẫm,
khuôn mặt anh tú ngước lên lộ ánh nhìn đầy vẻ ngẩn ngơ, si mê. Đó là lần đầu
tiên họ gặp nhau – mắt chạm mắt thoáng qua thôi mà khắc sâu tâm khảm.
Vũ Khâm Lân, một
thư sinh cơ hàn gốc làng Nhân Mục, đang theo đòi chữ nghĩa nơi một phường học
nghèo bên phía Tây thành. Từ nhỏ, Cậu đã sống trong cảnh mồ côi, cha mất sớm, mẹ
sớm hôm tảo tần bán cau trầu ngoài chợ, tằn tiện nuôi con bằng từng đồng xu lẻ.
Mỗi sớm tinh mơ, Khâm Lân dậy học bài trong tiếng gà gáy, tối đến lại chong đèn
dầu mà luyện chữ. Dù nghèo, nhưng ánh mắt cậu luôn sáng, thứ ánh sáng của người
tin vào một ngày được vinh quy bái tổ, báo hiếu mẹ hiền, rạng danh dòng họ.
Bạn đồng học thường
gọi đùa cậu là “Khâm Lân mộng sĩ”, có lẽ vì cậu hay đọc thơ dưới trăng, say mê
những áng văn Tống Đường, và đặc biệt là có thói quen chép tay các bài phú về
danh kỹ, giai nhân trong sử cũ. Chính một lần theo bạn đến nghe ca trù ở phường
hát Vạn Xuân, lần đầu Khâm Lân được nghe giọng hát của Diễm Hương. Từ đó, cái
tên người tiên ấy cứ bám miết trí tưởng của cậu như một lời nguyền dịu dàng. Bạn
bè cười, Khâm Lân chỉ mỉm : « Nếu có Nàng nâng chén trà cho ta giữa một
đêm thi hỏng, e rằng lòng này cũng đủ vang sóng dậy gió. » Cậu từng
nghe danh Diễm Hương, nhưng không ngờ rằng thực tại còn khiến tim mình rung động
hơn gấp bội tiếng đồn. Sau buổi diễn, cậu không dám nán lại. Nhưng đêm đó, cô
tìm đến nơi trọ của cậu. Không giao hẹn trước. Không lời giải thích. Chỉ có nụ
cười nghiêng và một túi vải nhỏ, trong đó chứa mười quan tiền.
– Cô… – Khâm Lân
lắp bắp, lúng túng chưa kịp đứng hẳn dậy – Sao cô lại đến… ?
Diễm Hương chỉ mỉm
cười, đặt nhẹ túi vải lên bàn tre ọp ẹp.
– Thiếp đến vì bắt
gặp ánh mắt chàng hôm ấy. Một ánh mắt không giống kẻ chỉ đi nghe hát để vui
tai. Chàng nhìn thiếp như thể muốn hỏi điều gì, mà lại ngại đường đột.
Khâm Lâm ấp úng :
– Tôi…, tôi chỉ
là một học trò nghèo, dám nào vọng tưởng…
– Không ai đánh
thuế ước mơ. Chàng thiếu gì thiếp không biết. Nhưng thiếp thấy ở chàng một ý
chí không mai một, hoài bão lớn lao. Và người như thế, nếu ngã quỵ chỉ vì vài bữa
cháo rau thì tiếc lắm.
– Cô… tặng tôi tiền
?
Lúc này Khâm Lâm
cảm thấy chân tay thừa thãi mà ngôn từ lại thiếu thốn chi lạ. Diếm Hương mau mắn
chặn lời, giọng nhỏ nhẹ, êm đềm :
– Không ! – cô khẽ
lắc đầu – Thiếp chỉ tạo cơ hội cho chàng. Cứ coi như thiếp đánh cược: một ngày
nào đó, nếu tên chàng khắc bảng vàng, thiếp sẽ là người đầu tiên nâng chén chúc
mừng, nhưng không phải trước đám đông, mà là ở một góc nhỏ chỉ có hai người
chúng ta.
Khâm Lân nghẹn lời.
Trước ánh đèn dầu tỏ, gương mặt cô hiện lên rõ hơn: không kiêu kỳ, không gợi
tình, chỉ đơn thuần là một Diễm Hương chân tình.
– Thiếp đi đây. Đừng
tiễn, cũng đừng nói lời tạ ơn. Nếu một ngày mai chàng công thành danh toại, hãy
viết cho thiếp một bài thơ. Còn nếu chẳng may thất bại… – cô nghiêng đầu suy
nghĩ – … thì hãy nhớ có một người đã tin chàng hơn chính chàng tin mình. Thiếp
tin, chàng sẽ đỗ đạt. Chàng chỉ vì ít oi điều kiện. Thiếp không mong gì nhiều.
Thiếp chỉ giúp chàng cơ hội.
Rồi cứ như thế họ
yêu nhau. Một tình yêu không đắn đo, không phô trương. Những buổi tối, cô gởi đến
một bầu rượu nếp, một bình trà hoa sói, hay một bài thơ chép tay. Cậu gởi lại một
chiếc lá khô, vài câu chữ vụng. Có lần, trong cơn say nhẹ, Khâm Lân thử chạm
tay vào mái tóc cô. Cô tránh đi, ánh mắt dịu dàng nhưng vạn phần kiên quyết :
– Thiếp là đào
hát, nhưng không phải là người bán mình. Nếu chàng thật lòng, hãy để mọi điều
chờ ngày vinh quy.
Từ đó, họ ít gặp
nhau hơn để tránh cám dỗ. Cô vẫn gởi tiền, gởi thơ, không gởi mặt. Cậu lao vào
đèn sách, thi cử, và cuối cùng: đỗ tiến sĩ khoa thi năm Bảo Thái thứ 8 (năm
1727).
Khâm Lân được bổ
nhiệm làm quan tri huyện ở một vùng lân cận kinh kỳ. Dù chưa phải là chức lớn,
nhưng với một người xuất thân hàn vi, đó là khởi đầu đáng tự hào. Vốn bản tính
điềm đạm, cậu không bon chen trong triều, chỉ chăm lo việc giáo hóa dân làng,
xét xử công bằng nên được lòng bách tính. Những năm tháng đầu làm quan, Khâm
Lân vẫn giữ nếp sống giản dị, hay đọc thơ vào những đêm không trăng, và nhiều lần
tự hỏi : cô ấy giờ đang ở đâu, và có còn chờ ta không?
Trong một lần được
mời dự yến tiệc ở phủ thượng thư, Khâm Lân tình cờ gặp tiểu thơ Ngọc Thoa, con
gái út của vị quan lớn trong triều. Cô thông minh, đoan trang, lại có đôi mắt
buồn như gợi lại một ký ức xa xôi nào đó, hao hao giống Diễm Hương. Ngọc Thoa
yêu thích văn chương, thường làm thơ, họa vịnh, và nhanh chóng bị cuốn hút bởi
vẻ trầm tĩnh, sâu sắc của vị tân tiến sĩ. Họ trò chuyện nhiều với nha, từ thơ
phú cho đến kinh thư, rồi dần dà trở nên thân thiết. Những lời mời mọc, những
buổi đàm đạo, rồi ánh mắt tự tin của một gia đình quyền quý khiến lòng Khâm Lân
bắt đầu lung lay, chao đảo.
Trong một xã hội
còn nặng lễ giáo, được gả vào nhà quan lớn là con đường sáng lạn cho một kẻ
hoài loay hoay trong xó tối. Cậu ngập ngừng giữa tình và lý, giữa ký ức và hiện
tại. Nhiều đêm, Khâm Lân cầm bút viết rồi lại xé đi, định tìm về gặp Diễm Hương
nhưng chưa cất bước. Trong lòng cậu luôn chứa đựng nỗi lo sợ âm thầm – sợ rằng
khi người ta đã là quan, thì việc dây dưa mật thiết với một cô đầu sẽ bị đàm tiếu,
hoạn lộ gian nan. Dù biết rõ Diễm Hương tuy nghề cô đầu nhưng là người tinh khiết,
sống với nghệ thuật bằng sự tự trọng hiếm có. Mà xã hội lại không dễ nhìn cô bằng
đôi mắt ấy. Kẻ sĩ đỗ đạt mà lui tới đào hát, dẫu thanh cao đến đâu cũng sẽ bị
gán cho tính “mê say tửu sắc” ! Khâm Lân không sợ tiếng thị phi cho mình, chỉ sợ
sẽ khiến Diễm Hương thêm đau lòng. Và thế là, cậu chọn im lặng, một sự im lặng
càng về sau càng thành phản bội.
Vài tháng sau,
hôn lễ giữa Khâm Lân và tiểu thơ Ngọc Thoa được tổ chức trong một phủ lớn giữa
lòng kinh thành. Đó là một lễ cưới trang trọng, có đủ văn quan võ tướng, chiêng
trống lễ nghi, cờ quạt phấp phới… Giữa hai hàng người chúc tụng, Khâm Lân mặc
áo đại triều, bước lên kiệu hoa sánh vai cùng Ngọc Thoa. Nhưng nào ai biết ai
hay trong lòng cậu là khoảng trống mênh mông của mất mát – niềm hân hoan của kẻ
hoạn lộ thẳng tiến nhưng lại pha lẫn âm vang một tiếng hát nào đó đã từng giúp
cậu trong đêm tối mịt mùng.
Cậu không dám nhắc
đến tên Diễm Hương. Không ai nhắc đến cô cả. Cô là quá khứ. Mà quá khứ, đôi khi
chỉ cần một lần quay đầu nhìn lại cũng đủ để phá hỏng cả tương lai. Khâm Lân bước
vào hôn nhân như một bổn phận. Cậu tự nhủ : đây là điều phải làm! Nhưng trong
đáy sâu thẳm của trái tim, cậu biết và nhận rõ mình là kẻ phản bội đốn mạt.
Một ngày nọ,
trong một yến tiệc lớn do triều đình thiết đãi nhân dịp lễ đăng khoa, giữa dòng
người ồn ã, bất ngờ Khâm Lân nghe lại một âm sắc quen thuộc: tiếng hát ca trù nỉ
non ngân lên giữa hội trường. Diễm Hương hiện diện qua lời mời – lần này, không
còn là người con gái nâng chén trà nơi hội làng, mà là một cô đầu đứng dưới ánh
đèn lớn, giữa sự tò mò và những lời xì xào nhỏ to.
Hai ánh mắt gặp lại
nhau giữa bao ánh nhìn khác. Không còn ngỡ ngàng, không còn rụt rè. Chỉ là hai
cái nhìn dài và lạnh, như hai người từng biết rất rõ nhau, nay gặp lại với trái
tim đã khép.
Diễm Hương vẫn
hát giọng dịu dàng, phong thái vẫn thanh khiết như xưa. Không khác ! Nhưng Khâm
Lân biết, trong mỗi câu hát ấy, có điều gì đã rút lại, không còn ngân cho cậu nữa.
Còn cậu, chỉ biết ngồi lặng, trong bộ áo quan triều, nhìn người đàn bà đã từng
thuộc về một đoạn đời mình, nay đứng đó, kể gần nhưng xa.
Buổi yến tiệc
trôi qua, họ không nói với nhau một lời. Nhưng cái nhìn khẽ ấy – dài, lặng và
đau – theo Khâm Lân về suốt một đời.
Hai mươi năm sau,
khi thời thế đổi thay nhiều, Diễm Hương giờ đã hóa ra bần hàn, không còn hơi sức
hát ca và cũng chẳng còn ai mời nhắn. Mái tóc xanh xưa bạc dần theo những mùa
mưa trôi qua trước hiên nhà nhỏ ven hồ. Mẹ cô già yếu, bệnh triền miên không dứt.
Cô bấu víu vào sợi chỉ mành cuối cùng của kiêu hãnh để không gục ngã. Chính vào
lúc ấy, Khâm Lân tìm đến.
Cậu đã là một
viên quan đứng tuổi, có quyền, có vị. Nhưng khi đứng trước căn nhà lợp ngói vỡ,
nơi cô đang sống, cậu bỗng se sắt thấy mình nhỏ bé lạ lùng. Họ gặp lại nhau như
người xa kẻ lạ. Giữa họ là một hố sâu ngăn cách. Khâm Lân âm thầm mời thầy thuốc
đến thăm bệnh cho mẹ cô. Những gói thuốc được gởi đến như món quà hảo tâm của một
người hàng xóm. Nhưng cô biết, đó là của Khâm Lân. Cô không tỏ thái độ phản đối,
không cự tuyệt.
Rồi đến một ngày,
mẹ cô mất. Hôm đưa tang, Khâm Lân lặng lẽ đi sau, không mặc lễ phục triều đình,
chỉ áo lam giản dị. Sau đó vài ngày, khi cậu quay lại, cánh cửa nhà đã khóa
kín. Hàng xóm bảo cô đi đâu không ai biết.
Không ai biết cô
đi đâu. Có người bảo cô vào chùa. Có người bảo cô lên núi… Nhưng trong một tập
thơ cũ, người ta tìm thấy vài câu viết bằng mực nâu đã phai:
Và như thế, cô biến
mất, như tiếng hát cuối cùng còn vấn vương trong lòng những người biết lắng
nghe, dù chỉ một lần.
Trúc Tiên
