21 February 2026

TẾT THA HƯƠNG - Ngự Thuyết

Người vợ đứng cạnh bàn ăn hỏi:

“Còn mấy ngày nữa là Tết hả anh?”

Người chồng đang ngồi xem TV lơ đãng đáp:

“Thất nghiệp rồi, chán lắm, Tết gì mà Tết!”

Người vợ nhún vai đáp:

“Anh sao oải thế.”

Người chồng, như thể bị chạm nọc, nổi nóng:

“Oải? Oải là cái gì? Em nên bớt bớt cái giọng điệu cà chớn đó đi. Độ này em hay trở chứng lắm. Nhưng Tết gì?”

Người vợ nổi nóng theo:

“Tết là Tết chứ còn Tết cái con khỉ gì nữa.”

Người chồng trợn mắt, to tiếng:

“Tết tây hay Tết ta? Hiểu chưa? Tết gì thì nói ngay đi! Đừng giở trò cái con khỉ nhé!”

“A cái anh này! Tết tây qua đã lâu, thì còn Tết ta chứ Tết gì nữa. Có thế mà anh không hiểu nổi sao?”

Người chồng mặt nhăn riết:

“Lý sự cùn! Tưởng thế là hay lắm chắc? Thì cứ bảo còn mấy ngày nữa là đến Tết ta. Như thế tôi khỏi phải động não. Lại còn a cái anh này, a cái anh kia. Bất lịch sự lắm.”

Người vợ cũng không vừa:

“Chữ nghĩa đao to búa lớn! Chỉ có thế mà phải động não với động đất.”

Người chồng hùng hổ quát:

“Thôi! Thôi! Đủ rồi. Câm cái mỏ lại.”

Người vợ đânh đá:

“Ủa, sao lại cái mỏ? Chim chóc, gà vịt mới cái mỏ. Người khác. Không chỉ đao to búa lớn, mà còn trật lất, còn, còn …”

“Còn gì nữa?”

“Con người thông minh, tài ba, như ông mà không nghĩ ra sao? Hèn gì …”

“Hèn gì cái gì? Muốn nói gì cứ nói thẳng ra. Ấp a ấp úng mãi. Hay không dám nói hả? Sợ hả?”

“Tui chẳng sợ ai cả. Sao? Muốn nghe cho rõ hay sao? Hèn gì … Thảo nào … bị cho nghỉ việc … Bị đuổi cổ.”

Người chồng bật người đứng dậy, cặp mắt long lên, cầm cái remote ném mạnh vào cái TV. Chị vợ không nao núng, bình tĩnh đứng yên, coi bộ như sẵn sàng kháng cự.

Khác với trước kia, mỗi khi thấy chồng nổi nóng, chị vợ liền hạ nhiệt, cười mỉm, rồi lẳng lặng rút lui, đi xuống nhà bếp làm bộ tìm kiếm một cái gì. Có khi bị đuối lý, anh chồng nói ngang như cua:

“Tôi có 1001 việc cần phải làm gấp ngay bây giờ đây, không dư hơi đâu mà ngồi đó lằng nhằng mãi với cô.”

Chị vợ sẵn sàng bỏ qua, nói chuyện khác nhẹ nhàng hơn, hay ho hơn.

Nhưng lần này không phải là chuyện có thể bỏ qua được. Coi bộ sẽ nổ to.

Họ sống chắp nối với nhau mới hơn một năm, không làm đám cưới, không có giấy hôn thú. Anh chồng đã đứng tuổi.

Trước kia anh là sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau 30/4/1975, vượt biên cùng vợ và hai con. Vợ con đều tử nạn trên biển. Một mình anh đến đảo Galang, buồn chán, và gần như là tuyệt vọng. Hơn 5 năm sau anh được định cư tại Mỹ, đi lang thang nhiều nơi một thời gian, cuối cùng, nhờ may mắn, tìm được việc làm tại VA (Veterans Affairs, một cơ quan của Cựu Chiến Binh thuộc Liên Bang).

Người vợ mới còn trẻ lắm so với anh, khá xinh đẹp, có một đứa con trai còn nhỏ với người chồng cũ, làm nghề tóc, nghề trang điểm sắc đẹp, hôm có khách tới, hôm không, sống vất vưởng nay đây mai đó. Anh gặng hỏi mấy lần về người chồng cũ của chị, nhưng chị nhất định không trả lời.

Hai người gặp nhau tại Seattle. Anh tỏ vẻ rất thương yêu đứa con riêng của vợ. Nó đang học lớp 7 tại một trường tiểu học. Vậy anh có thương yêu chị hay không? Điều đó khó ai biết được. Nhưng có điều là anh không ép chị phải đi làm. Anh bảo đồng lương của anh cũng đủ cho gia đình nhỏ chỉ có 3 người. Chị nên ở nhà lo chợ búa, cơm nước, giặt giũ, đem con đi học. Thế là tốt đẹp rồi.

Nhưng mới đây thôi, anh bị sa thải không hiểu vì lý do gì. Dư nhân viên chăng? Chị sau đó xin được một việc làm tại một nhà hàng ăn uống của người gốc Mễ, hay Nam Mỹ gì đó tại Spokane, thay chồng lo việc “kiếm cơm”. Và gia đình dọn về đấy. Họ thuê được một căn hộ nhỏ nằm trên một con đường vắng vẻ, sống âm thầm bên lề của cuộc đời, bên lề xã hội.

Thị trấn Spokane nằm ở phía đông thành phố Seattle thủ phủ của tiểu bang Washington. Từ Spokane đến Seattle khoảng 450 cây số, lái xe mất hơn 5 tiếng đồng hồ trên xa lộ 90. Có cả xe đò, xe lửa nối liền hai thành phố đó.

Thị trấn này đẹp, có nhiều thắng cảnh, khá đông dân, phần lớn là người da trắng (trên 84%). Người gốc Á chỉ chiếm khoảng 2% dân số; còn lại là người da đen, và người gốc Mễ hoặc Nam Mỹ.

Nếu Seattle mưa nhiều quanh năm, và lạnh, thỉnh thoảng có tuyết, thì Spokane còn lạnh hơn, năm nào cũng tuyết nhiều. Tuyết đổ xuống Spokane từ giữa tháng 11, có khi đến tháng Ba năm sau vẫn còn tuyết. Vào dịp Lễ Giáng Sinh, hoa tuyết rơi rơi không ngừng, trông như liễu rủ rèm buông, tinh khôi, lộng lẫy. Tuyết tràn ngập thành phố, trắng xóa mọi nơi. Người ta gọi một cách trìu mến, Giáng Sinh Trắng, White Christmas.

Người Mỹ ở nhiều nơi trên thế giới, những đoàn quân viễn chinh xa nhà lâu ngày, tại những vùng nhiệt đới, lắm khi mơ màng một Giáng Sinh Trắng bay lượn chờn vờn trong tâm trí, nương theo tiếng hát của Bing Crosby, thủ thỉ như chuyện trò thì thầm bên gối, ấm áp và ngọt ngào mà lênh đênh và huyền hoặc, I’m dreaming of a White Christmas, just like the ones I used to know… Thế người Việt Nam lưu vong cũng tại rất nhiều nơi trên quả đất này, “khi về trong mùa Đông” nơi đất khách, quê người, khi Tết sắp đến, Xuân sắp sang, họ mơ tưởng những gì? Bàn thờ tổ tiên, và người thân, hàng xóm, láng giềng? Hay mùi nhang trầm lan tỏa trong không gian cùng với tiếng pháo nổ vang lừng và điệu múa lân tưng bừng trong tiếng trống rộn ràng? Hay mứt món, bánh trái, bánh tét, bánh chưng, thịt mỡ, dưa hành, và những món ăn thịnh soạn khác cùng ly rượu mừng và lời chúc tụng? Hay lặng nhìn hoa lá mùa xuân chen nhau đua hương, đua sắc dưới những cơn mưa phùn ấm áp phất phơ trong gió? Để cuối cùng chợt nhớ ra rằng quê cũ đã xa nghìn trùng không có ngày về?

Đồng lương của người vợ không đủ để tiêu dùng cho gia đình dù chỉ gồm ba người. Họ phải sống rất tiện tặn, tuyệt nhiên không còn dám kéo nhau đi ăn tại tiệm Mỹ, tiệm Mễ, những tiệm ăn khá nghèo nàn thôi, mỗi cuối tháng, hoặc cao hứng thì lái xe đến thành phố Seattle, đi về mất hơn 10 tiếng đồng hồ, để thưởng thức những món ăn Việt Nam mà họ thèm thuồng như phở, bún bò giò heo, hủ tiếu, chả cá, nem nướng, bánh bèo, bánh xèo.

Hai vợ chồng trước kia sống rất hòa thuận với nhau. Từ ngày anh bị thất nghiệp, “ăn không ngồi rồi” hết tháng này qua tháng khác khiến chị sốt ruột. Ngày lại ngày chi tiêu giảm nhưng cãi vã tăng. Càng lúc càng gay gắt.

Cũng may khi anh điên tiết lên, chị hạ nhiệt, dịu giọng, và rút lui gọn — như đã nói đến, và cần phải nhắc lại. Và họ sẽ không chuyện trò với nhau. Bếp lửa tắt, chị không nấu nướng. Anh lục lọi trong tủ lạnh tìm mì ăn liền, cơm nguội, hay bánh mì nướng lên kẹp cá hộp, thịt hộp, cho vào vài lát cà chua, dưa leo. Chị nhịn đói. Chắc hẳn chị đã ăn uống tại nhà hàng nơi chị làm việc? Rồi họ hòa thuận với nhau sau vài ba ngày giận dỗi. Thường lệ, anh làm lành trước.

Nhưng lần vừa rồi họ cãi nhau quá nặng lời, khó có thể giảng hòa.

Không khí trong gia đình chùng lại như nước ao tù. Ngẩn ngơ, uể oải, chán chường. Thằng nhỏ có vẻ ngạc nhiên không hiểu vì sao bố mẹ cứ hay cà khịa nhau hoài. Nó cũng đành phải ăn uống thất thường. Bố dượng gọi trước, nó ăn với bố dù đồ ăn dở. Mẹ gọi trước, nó tới mẹ, ăn một mình những món mẹ mang từ nhà hàng về. Mẹ ngồi im lặng nhìn. Nó ngơ ngác nhưng trông vui hẳn lên. Có lẽ nó biết lợi dụng tình thế. Bố mẹ bận “giao chiến”, không quan tâm nhiều đến nó, nó bèn lơ là việc học bài, hoặc làm homework. Suốt ngày, ngoài giờ học tại trường, nó ôm cái laptop đi vào giường ngủ của mẹ nằm chơi games đã đời.

Hai vợ chồng trông không khác gì hai đứa trẻ chơi trò chớp mắt. Cố gắng mở to mắt, ai chịu không nổi chớp mắt trước, là thua. Hai người cứ thế dằng co, chưa ai chịu chớp mắt trước mặc dù cả hai con mắt đã chịu hết muốn nổi. Nhưng vấn đề là thua thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Người thua cuộc sẽ tuân theo mệnh lệnh của người thắng cuộc, hay sẽ giận dữ đạp đổ mọi ràng buộc giữa hai bên? Hơn một năm chung sống với nhau có đủ để làm thành chất keo gắn bó họ lại với nhau cho đến cuối đời? Hay một ngày nào đó, khi thấy không vừa ý nhau nữa, mỗi người sẽ một ngả, đường ai nấy đi?

Mấy hôm nay, những lúc chưa tới giờ đi làm, chị trông rất bơ phờ, đứng ngồi không yên, đi lui đi tới, thỉnh thoảng lén nhìn anh, miệng mấp máy như muốn nói điều gì. Trong khi đó anh cũng kín đáo quan sát chị. Có lẽ anh nghĩ rằng chị vợ sắp sửa “khua chiêng” chăng. Trong chiến trận ngày xưa, trống giục quân tiến, chiêng khua quân lui. Nhưng cuộc chiến vẫn kéo dài, gần một tuần lễ rồi, chưa thấy có dấu hiệu chị hay anh muốn chịu thua, xin giảng hòa.

Rồi lại đến phiên anh có vẻ rất bồn chồn, lo lắng, suy nghĩ. Đấy chỉ là những biểu hiện bên ngoài chăng? Thật ra, khó ai biết được anh nghĩ điều gì, định làm cái gì. Có thể anh sẽ nổi khùng lên rồi bỏ nhà đi. Đi đâu? Biết đâu sẽ đi tiểu bang khác, tìm người đàn bà khác để chắp nối, tìm việc làm mới ở những tiểu bang dễ tìm việc hơn. Nhưng cũng có thể anh không những chỉ thương yêu thằng nhỏ mà thôi, trong sâu xa anh say mê người vợ trẻ đẹp có duyên ngầm này dù cô ta không biết chiều chồng, dù vừa mới nắm quyền kinh tế trong tay là đã muốn “qua mặt” chồng một cách trắng trợn, không chút nể nang.

Một hôm, buổi chiều đi làm về trễ hơn thường lệ khá lâu, chị lái xe vào tận trước cửa nhà. Đứa con vui mừng chạy ra gọi to, mẹ, mẹ:

Why mẹ lâu về lắm. Con thì worried quá.”

Nó nói tiếng Anh thông thạo như ngưởi bản xứ, nhưng tiếng Việt thì ngọng nghịu, khó khăn, sai bét. Anh bắt nó phải nói tiếng Việt tại nhà cho quen. Anh muốn thế và chị bằng lòng ngay. Bởi vì, theo anh, nếu nó không nói được tiếng Việt, chỉ trong vòng một vài năm nó sẽ quên hết nguồn gốc. Tiếng Anh thì nó đã nói quá nhiều với bạn bè, với thầy cô ở trường rồi.

Chị cắp nách nó bồng lên một cách khó khăn vì nó đã cao hơn chị nửa cái đầu. Nhân thể chị bảo nó đứng chờ giúp chị một tay. Nó ngạc nhiên. Anh đang lui cui trong nhà bếp chả biết đang làm trò gì — có lẽ định tìm một món nào khác có thể cho vào lò bếp ga xào nấu lên để thay cho nhiều bữa ăn đồ hộp, ăn đồ nguội chán ngấy — nghe thấy tiếng xe, bèn nhìn ra ngoài sân. Và cũng ngạc nhiên không kém. Anh sững sờ lặng lẽ theo dõi.

Chị mở cốp xe. Lấy ra một cái hộp khá lớn, chẳng biết đựng gì trong đó, một bó hoa, một bịch cam, hai nải chuối giống như chuối cau ở Việt Nam, chứ không phải chuối trái lớn và dài thường thấy. Rồi miếng thịt heo ba chỉ khá to, mấy cái đùi gà đã làm sạch lông, hai con cá diêu hồng, khúc sườn bò, vỉ trứng gà. Tiếp theo là khoai tây, cà rốt, hành củ, hành lá, và đặc biệt rau thơm đủ loại.

Anh từ trong bếp nhìn ra hoa mắt, chẳng hiểu tại sao chị mua lắm thứ như thế. Chị định làm một bữa tiệc chăng? Tiệc gì nhỉ? Không lẽ tiệc giã từ, tiệc chia tay. Ăn uống no say, xong mỗi người một ngả? Chia tay thì chia tay trong im lặng chứ! Có thể anh đã nghĩ như vậy.

Chị cùng đứa con đem tất cả các thứ vào nhà bếp nơi anh đang đứng ngẩn người nhìn. Không kịp tránh mặt, anh đành lên tiếng:

“Mua gì lắm thế?”

Chị không trả lời, mặt đanh lại. Anh vô tình hỏi tiếp:

“Mua tại chợ Mỹ hay chợ Mễ? Sao lai có cái thứ chuối đó? Lạ quá”

Chị vẫn im lặng chăm chú cùng đứa bé đặt các thứ lên bàn ăn, lên ngăn kệ, hay cho vào tủ lạnh. Anh không đừng được nói tiếp:

“Cái thứ đó quả là lâu ngày mới thấy lại.”

Chị ngạc nhiên, buột miệng:

“Cái thứ gì?”

Baby banana.”

Chị chau mày, nhưng bật cười:

“A, ông muốn nói nải chuối trái nhỏ đó?”

“Đúng vậy. Tên gì tôi quên mất.”

“Bên mình gọi là chuối cau. Hay chuối mật. Nhưng chuối mật thì mập hơn chút xíu.”

Thế là hai người lại tiếp tục nói chuyện với nhau một cách êm xuôi, thoải mái, tự nhiên, như không hề có chuyện giận nhau kéo dài đến cả tuần lễ.

Không có gió nhưng lạnh, anh vội tới đóng cửa lại, trong khi chị mở lò ga bắc ấm nước.

Bên ngoài đã nhá nhem tối, mùa này trời mau tối quá, và giá buốt. Bên trong, ánh đèn hình như sáng hơn mọi ngày, ngọn lửa trong lò ga nghe rù rì, ấm nước đang reo lên, reo vui. Chưa cần mở heat lên, cái không khí êm đềm, ấm cúng của một gia đình nhỏ đang trở về với căn nhà đã nhiều hôm vắng tiếng cười.

Thằng nhỏ vui hẳn lên, hết nhìn chị đến nhìn anh, vẻ mặt thoáng chút ngơ ngác, rồi lặng lẽ chạy lên nhà trên, lấy labtop ra chơi games tiếp.

Anh vui miệng:

“Loại chuối kia, tôi … anh muốn nói chuối em vẫn mua lâu nay. Nó to, dài, ăn vệ sinh hơn. Chuối nhỏ này ngọt quá, anh tiểu đường, kiêng.”

“Thì ăn ít lại. Nửa trái thôi. Một phần ba trái thôi. Mua cốt để cúng mà. Trước cúng sau ăn. Cái gì cũng ăn, ăn, không tốt đâu.”

“Chuối to cúng không được hay sao, em?”

Chị đỏ mặt:

“Anh nói vô duyên lắm. Ai lại đi cúng loại chuối dài, cong đó. Tội chết.”

“Anh không hiểu em nói gì. Nhưng cúng? Cúng ai? Em mua chuối đó ở đâu? Còn cái gói đó là gói gì mà gói kỹ quá vậy?”

Chị lườm chồng, vẻ mặt thoáng một chút âu yếm. Ấm nước trên lò đã sôi. Chị vội tắt lò ga, vừa chế nước từ ấm vào bình thủy, vừa nói:

“Anh thật không biết cúng gì hay sao? Lại hỏi nhiều chuyện cùng một lúc như vậy, em làm sao biết trả lời chuyện nào trước, chuyện nào sau? Chuyện chuối trước nhé. Mua chuối ở đâu hả, mua ngoài chợ chứ mua ở đâu nữa. Chợ Việt Nam, ở Seattle …”

Anh liền ngắt lời chị, hăm hở nói:

“Vô lý hết sức. Em ơi, đừng tưởng anh không có óc quan sát. Anh thấy cả tuần nay em đi làm việc liên tục, không nghỉ ngày nào cả, làm sao đi Seattle được.”

Chị dịu dàng đáp:

“Em nhờ chị bạn cùng làm tại nhà hàng mua giùm. Chị xin một ngày nghỉ. Cũng may đấy là người Việt duy nhất sống tại vùng này ngoài gia đình mình, theo chỗ em biết.”

Anh có vẻ không bằng lòng:

“Thật là rầy rà. Đi xa, mất thì giờ, tốn xăng. Làm phiền người ta quá lắm.”

“Không có phiền hà gì cả. Chị cũng mua cho chị nữa, mình ké mà. Chị cũng phải cúng chứ, dù ở một mình. Em còn nhờ chị mua mấy thứ khác nữa, chứ không phải chỉ … chỉ … chỉ cái gì nhỉ … à chỉ baby banana đâu.”

Anh tỏ vẻ không hiểu, đi lui đi tới lẩm bẩm mua, mua, cúng, cúng. Quái lạ thật! Anh nhìn cái hộp to, hỏi:

“Còn cái gói to đó nữa. Gói gì vậy?”

“Đố anh đấy.”

“Xin thua.”

“Thì mở ra coi đi. Mở giùm em luôn thể.”

Anh đi lấy kéo cắt mấy sợi dây cột quanh và lớp giấy bao bên ngoài. Cuối cùng lấy ra được một cặp đèn sáp trắng — anh bỗng nhớ tên gọi của nó, đèn bạch lạp — và một ống nhựa khá cao, ống đựng nhang, thay vì nhang đựng trong những bao giấy dài màu đỏ mà ở quê nhà gọi là những thẻ nhang. Đặc biệt, một đòn bánh tét.

Anh như chợt hiểu, âu yếm nhìn vợ. Có lẽ anh vừa nhớ ra rằng tuần trước chị hỏi anh khi nào Tết. Anh bắt bẻ, chị gắt gỏng. Để đi đến chỗ cãi vã, rồi lạnh nhạt nhau, tưởng như muốn “thôi nhau” không chừng.

Vâng, trong khi anh giận dỗi, buồn bực, thất nghiệp, quên khuấy cả Tết đến, xuân về, chị vẫn lẳng lặng một mình lo lắng mọi chuyện, mua sắm, sửa soạn nhang, đèn, hoa, quả, bánh trái, thịt thà, cá mú. Tất cả cho ngày Tết tha hương của một gia đình cô quạnh trôi giạt tới một nơi xa lạ này.

Chị gọi to:

“Sơn!”

Nó dạ một tiếng, từ phòng trên chạy nhanh xuống nhà bếp.

“Con quỷ quái lắm đó. Thấy bố mẹ … bố mẹ … con không lo học hành chi cả. Chơi games hoài. Con giúp mẹ việc này nhé. Còn anh nữa. Anh vẫn lấy chưa hết đồ trong hộp ra đó. Giỏi chưa.”

Anh lục lại mớ giấy bao ngoài và cái hộp, thấy có phong pháo.

“Em mới giỏi hơn anh! Ở đây người ta cấm đốt pháo, em không biết hay sao, lại mua về.”

Chị buồn rầu trả lời:

“Em biết chứ, nhưng cứ mua. Tết không có pháo mất vui. Tai không nghe pháo nổ, thì nghe bằng mắt vậy.”

Anh trố mắt nhìn chị, có vẻ suy nghĩ, cuối cùng nói:

“Mình rán dành dụm tiền nhé. Để Tết năm sau bay về San Jose hay xuống Nam Cali ăn Tết Việt Nam. Đốt pháo, múa lân, rượu chè, nem chả, bánh chưng, bánh tét. Tha hồ. Đánh bài nữa. Tập cho thằng Sơn chơi bầu, cua, cá, cọp.”

Chị mỉm cười ngoảnh mặt nhìn lại anh như muốn nói một điều gì khó nói. Ánh mắt thoáng chút ranh mảnh, nếu không muốn nói pha chút giễu cợt. Anh có vẻ chột dạ, lắp bắp, nói tiếp:

“Thế nào ra Tết anh cũng sẽ có việc làm, kiếm tiền thay em chứ. Bất cứ việc gì, chứ không thể để như thế này được.” Ngẫm nghĩ. “Và bất cứ nơi đâu. Cùng lắm là dọn nhà đi nơi khác ở. ” 

Ngự Thuyết
2/2026