Vĩnh giật mình thức giấc khi tiếng chuông điện thoại reo
vang ở đầu giường, chàng tốc mền vói tay với lấy cái điện thoại áp vào má, giọng
chàng nhừa nhựa:
- A... lố!...
Đầu dây bên là tiếng của Quỳnh Dao, em gái chàn
- Anh Vĩnh hả? Giờ này mà còn ngủ?
Vĩnh mắt nhắm mắt mở nhìn lên đồng hồ treo tường nói:
- Mấy giờ rồi?... Ối giời! Mới 9 giờ sáng chứ mấy! Đêm qua
anh thức khuya quá nên dậy muộn.
Giọng Quỳnh Dao vui vẻ:
- Em gọi để báo cho anh biết mẹ khỏe rồi, có thể nay mai sẽ
được về thôi. Tuần này là long weekend, anh có về thăm mẹ
không?
Vĩnh vẫn nằm dài trên giường đáp:
- Có chứ! Anh định sáng sớm nay lái xe về mà mấy thằng bạn mắc
dịch, đêm qua cứ níu kéo chơi khuya quá nên ngủ quên. Thôi được! Anh sẽ dậy tắm
rửa rồi đi ngay, đi muộn thì sẽ về hơi trễ đấy! Nói mẹ đừng có trông,
nhé!
Cúp điện thoại xong, Vĩnh choàng ngay dậy vào nhà tắm làm vệ
sinh cá nhân, tắm rửa để chuẩn bị lái xe về LA thăm mẹ. Vĩnh mồ côi cha từ nhỏ,
có bốn anh chị em tất cả, mẹ Vĩnh ở vậy nuôi các anh chị em của Vĩnh ăn học
thành tài. Người anh lớn làm bác sĩ, đi du học ngay từ khi vừa đậu tú tài toàn
phần trước 75. Là người đứng ra bảo lãnh cho mẹ, người chị, đứa em gái và chàng
sang Mỹ sau khi miền Nam bị rơi vào tay cộng sản 8 năm sau đó. Người chị gái hiện
là dược sĩ, đang sống với mẹ và cô em gái út, cũng đang là nha sĩ, tất cả đều định
cư ở Santa Ana. Các anh chị em của chàng ai cũng siêng năng cần cù chăm chỉ học
thành tài cả, có công danh sự nghiệp vững vàng. Chỉ riêng có chàng là lông bông
lại có máu nghệ sĩ, học hành dang dở chỉ thích ca hát đàn địch vớ vẩn chẳng đâu
vào đâu. Mấy năm trước phong trào tuyển lựa ca sĩ karaoke phát động mạnh mẽ,
chàng cũng hăm hở đi thi, giật giải hạng ba. Được trung tâm “Người đẹp Bình
Dương” (NĐBD) mời hát, chàng... chê, đòi phải “Asia” mới chịu hát. Được voi đòi
tiên, chờ dài cổ chẳng có trung tâm nào thèm mời, bây giờ có muốn “NĐBD” cũng
chẳng được chứ đừng nói “Asia”.
Vốn được cái mã bảnh bao và khá cao lớn lại ham thích văn
nghệ nên chàng theo một ban nhạc đi làm MC và hát cho những buổi tiệc cưới cuối
tuần. Được một thời gian chàng nhận thấy tiền ra nhiều hơn là tiền dzô, nên lại
quay về ghi tên vào College học tiếp để hoàn thành cái bằng Computer
Science mà chàng đã bỏ dở dang nửa chừng. Hơn nửa đời người mới ra trường,
kinh tế Mỹ tuột dốc thê thảm, không có việc làm, chàng lại lê thê học tiếp đến
40 cái xuân xanh mới lấy được cái bằng “Master”. Được một hãng ở
San Jose cho job, thế là mùa hè năm 2005, chàng phải rời “tí” mẹ
khăn gói đến San Jose nhận job cho đến bây giờ.
Hai tuần trước, mẹ chàng phải vào cấp cứu vì một cơn đau tim
tưởng chết, con em gái sợ quá rối rít gọi chàng về. Nhưng rồi mẹ chàng cũng qua
khỏi, người già mà! Ra vô bệnh viện là chuyện thường. Chàng thăm mẹ được ba
hôm, thấy mẹ đã qua cơn nguy hiểm, chàng lại lộn trở về San Jose đi làm tiếp.
Hơn nửa đời người, lần đầu tiên chàng có công ăn việc làm một cách đúng đắn và
nghiêm chỉnh không còn phải dựa vào mẹ và các anh chị em khác như thuở còn lông
bông trước kia nữa! Chàng muốn tự lập để còn cưới vợ nữa chứ! Vì quen được mẹ
nuông chiều từ nhỏ nên chàng ỷ lại, các anh chị em chàng cũng rất tốt, đã xúm
nhau bảo bọc, nuôi chàng ăn học bấy lâu nay. Bây giờ mẹ già rồi, chàng cũng chẳng
còn trẻ trung gì, không lo tự lập mai mốt mẹ khuất núi, chàng dựa dẫm vào ai?
Chẳng lẽ để cho anh chị hay đứa em gái nuôi mình à? Vì thế chàng hết sức siêng
năng với cái job của mình. Thời buổi gạo châu củi quế, bao
nhiêu người thất nghiệp, chàng có được một cái job tương đối
lương cũng khá cao nên không thể bê bối được, cho nên chàng giới hạn việc nghỉ
phép lắm! Lần vừa rồi tưởng mẹ xảy ra chuyện rồi nên chàng mới phải nghỉ hết ba
ngày để về thăm mẹ chứ bình thường chàng chờ đến long weekend mới lái xe về gia
đình. Năm nay Giáng sinh, hãng nghỉ bắc cầu qua New Year luôn, nên chàng dự định
sẽ lái xe về thăm mẹ với hy vọng mẹ chàng cũng được xuất viện để cả nhà đoàn tựu
cho vui.
Chàng bước ra khỏi căn appartement hai
phòng thuê chung với thằng bạn thì sương mù đã xà xuống thật thấp, đứng cách
nhau chừng hai thước là không nhìn thấy nhau rồi. Chàng chép miệng than thầm
sương mù như thế này thì lái xe đến đời nào mới về đến nhà đây? Chàng ngần ngừ
hay thôi đi máy bay vậy. Rồi chàng lại lắc đầu chắc lưỡi có đi máy bay cũng chẳng
có ma nào nó đưa ra phi trường. Thằng bạn thuê chung nhà với chàng đã về thăm
gia đình ở TX từ trước Noel rồi, còn chàng ở lại chơi Noel với bạn đến hôm nay
mới về thăm mẹ. Chưa bao giờ chàng thấy sương mù đẹp như hôm nay, chàng có cảm
tưởng như mình đang bước lên trên mây, lên cảnh tiên chứ không phải đang lái
xe, và chỉ một mình chàng đang lạc chốn thiên thai chứ chẳng có ai chung quanh
chàng cả. Hình như vậy! Ánh đèn sương mù “fog” của chàng quét tới đâu chàng lái
tới đó chứ cũng không định được rõ rệt là mình đã lái đến đâu nữa! Rõ ràng là
“đường thênh thang một cõi ta... đi...” và rồi vì cứ “đường thênh thang một cõi
ta đi” cho nên chàng cứ đi, đi mãi cho đến một lúc chàng cảm thấy hai tai ù đi,
cảnh vật âm u tối sầm như sắp mưa, chiếc xe trì lại như muốn tuột dốc. Có lẽ là
đang leo đèo, chàng nghĩ vậy nên sang số mạnh hơn để gia tăng tốc độ, chàng ngạc
nhiên khi thấy chiếc xe như muốn ngừng hẳn lại. Không hiểu chuyện gì xảy ra,
còn đang loay hoay với cần số xe thì bên tai chàng thoáng nghe tiếng nhạc ngựa
đâu đó vọng lại (là tiếng leng keng của mấy con ngựa thời xưa đeo lục lạc dưới
chân, mỗi lần kéo xe nó kêu leng keng nghe thật là vui tai). Vĩnh ngừng xe lại
nghe ngóng, rõ ràng là tiếng nhạc ngựa văng vẳng đâu đây, chàng mở cửa xe bước
hẳn ra ngoài, một đám trẻ con reo lên:
- Ô tô! Có ô tô về làng! Chúng mày ơi! Ra xem ô
tô.
Vĩnh ngạc nhiên quá sức, đám trẻ con này hẳn không phải đang
sống ở thế kỷ 21 mà phải thụt lùi lại ít nhất là cả trăm năm trước, nghĩa là thời
thế hệ của ông bà chàng chứ không chắc phải là thời cha mẹ chàng nữa! Vì chúng
ăn mặc xưa thật là xưa, quần áo bà ba, đầu để chỏm, chân đi guốc xúm lại chung
quanh chàng và chiếc “ô tô” sờ mó lung tung. Chàng túm lấy một đứa hỏi:
- Cho tôi hỏi thăm một tí, đây là đâu vậy
em?
Đứa bé trả lời:
- Đây là làng Âm.
Vĩnh ngạc nhiên lập lại:
- Làng Âm? Làng Âm là ở đâu vậy em?
Đứa bé lắc đầu:
- Không biết! Ông vào làng mà hỏi các cụ.
Rồi nó nhanh nhẹn vùng khỏi tay của Vĩnh để hòa vào đám trẻ
con đang tíu tít sờ mó vào chiếc “ô tô” lạ mà hình như chúng chưa được thấy bao
giờ. Vĩnh đưa mắt quan sát chung quanh cảnh vật, quả là thế giới đi giật lùi thật!
Chàng ngạc nhiên không hiểu tại sao mình lại có thể lạc đến một nơi như thế này
được? Chàng đang ở Mỹ mà, ở Mỹ thì lại càng không thể có một nơi nào để có thể
có được một nét đặc thù trăm phần trăm sắc thái quê nhà như chàng đang chứng kiến
tận mắt được.
Họ đang tấp nập với những sinh hoạt thường ngày của họ,
chàng cứ lững thững đi theo sau đuôi một cô mặc yếm màu hồng, áo tứ thân vàng
thắt lưng màu tím, có hai má lúm đồng tiền thật sâu để theo vào làng thì chợt
nghe leng keng tiếng nhạc ngựa đằng sau lưng và giọng ai đó thật là quen thuộc
gọi chàng:
- Cậu Vĩnh! Cậu Vĩnh! Có phải cậu Vĩnh đấy
không?
Chàng quay lại thấy một cỗ xe thổ mộ màu đen thui, rèm che
kín mít với hai con ngựa kéo, khi chiếc xe kéo đến gần chàng, chiếc rèm được
vén lên, chàng ngạc nhiên kêu lên:
- Ông Chánh! Sao ông lại ở
đây?
Một ông cụ cũng khá lớn tuổi nhưng vẫn còn khỏe mạnh thò đầu
ra cười nói với chàng:
- Tôi không ở đây thì ở đâu? Dành cho cậu một sự ngạc nhiên
đây. Nói rồi ông né người sang một bên hỏi: Cậu biết ai đây
không?
Một người đàn bà nhỏ thó, ngồi sau lưng ông Chánh, bấy giờ mới
nghiêng đầu nhìn chàng cười. Vĩnh mừng rỡ kêu lên thảng thốt:
- Mẹ! Sao mẹ lại ở đây?
Ông Chánh nói xen vào:
- Cũng lại hỏi, cậu này thật phiền phức.
Mẹ chàng cười hiền hòa:
- Mẹ cũng vừa đến sáng nay thôi, chú Chánh đi đón mẹ đấy!
Đưa về nhà cụ tham, chắc con cũng chẳng biết cụ tham là ai đâu. Đi ngang đây
nhìn thấy xe con, mẹ bảo chú ấy đỗ lại đón con đấy chứ! Con lên đây cùng đi với
mẹ.
Chàng chỉ chiếc xe hơi nói:
- Hay mẹ ngồi xe
của con, con đưa mẹ đi.
Mẹ chàng lắc đầu:
- Không được, đường
làng khó đi, chỉ có xe ngựa là thích hợp, cứ để xe đấy! Đi chơi với mẹ một chốc
rồi mẹ đưa con ra xe về lại.
Vĩnh bước lên ngồi
bên cạnh mẹ, chiếc xe ngựa lại lắc lư “leng keng” kéo vào làng, chàng nghiêng đầu
ngắm mẹ rồi nói:
- Mẹ hơi xanh,
ban sáng con được điện thoại em Dao nói mẹ khỏe rồi, có thể sẽ được bác sĩ cho
về nhà. Con đang lái xe về LA với hy vọng sẽ được gặp mẹ ở nhà, không ngờ mẹ lại
đi đến đây mà chả ai báo với con biết hết.
Mẹ Vĩnh ôn tồn trả
lời chàng:
- Mẹ cũng vừa xuất
viện là... đến nơi đây ngay, em Dao có gọi cho con mà không được.
Vĩnh ngạc nhiên
móc điện thoại ra vừa bấm số vừa nói:
- Sao kỳ vậy? Để con gọi nó xem
sao...
Mẹ chàng cản lại:
- Thôi đừng con,
có lẽ vùng này... xa quá nên mất sóng không liên lạc được.
Vĩnh loay hoay với
cái điện thoại một lát rồi cũng cất vào túi nói theo mẹ:
- Không có “signal” thật.
Chàng nhìn quanh quất một lát rồi ngó sang ông Chánh thì thầm tiếp vào lỗ tai mẹ
nho nhỏ: Mẹ! Nếu con nhớ không lầm thì hình như ông Chánh đã... qua đời cách
đây vài năm sao bây giờ còn ở đây?
Mẹ chàng đưa ngón
tay lên môi:
- Suỵt! Tốt hơn hết
con đừng có hỏi gì hết, có thắc mắc cái gì thì cứ để bụng, chẳng nhẽ có mẹ ở
đây mà con lại sợ à?
Chàng ngồi yên
không hỏi nữa, vén màn đưa mắt ngắm nhìn cảnh đồng quê hai bên bờ ruộng. Chiếc
xe ngựa chạy một đỗi thì dừng lại trước sân một gian nhà ngói mái cong. Ông
Chánh leo xuống và lên tiếng:
- Đến rồi! Rước
bà với cậu vào nhà.
Hai mẹ con bước
xuống xe, Vĩnh kêu lên khi thấy hai bên “dàn chào” để đón tiếp mẹ con chàng:
- Wow! Làm gì mà
trịnh trọng quá vậy mẹ!
Một ông cụ già
râu tóc bạc phơ, trông rất quắc thước, chống gậy đi chầm chậm đến trước mặt mẹ
chàng lên tiếng:
- Chào bà Phán (mẹ
chàng nói cha chàng lúc sanh tiền thưở xưa ở Hà Nội làm đến chức “ông” Phán nên
mọi người gọi mẹ chàng là bà Phán, chàng chẳng biết đấy là cái chức gì? có “to”
lắm không mà thấy mọi người có vẻ kính nể) lâu quá mới lại được gặp bà, rước bà
vào nhà, còn đây là...?
Cụ đưa mắt nhìn
sang chàng dò hỏi. Mẹ chàng lên tiếng chào hỏi và chỉ chàng giới thiệu:
- Không dám, chào
cụ! Đây là thằng con trai thứ ba của cháu đấy ạ! Rồi quay sang chàng bà giục:
Chào cụ Tham đi con.
Vĩnh vòng tay lễ
phép:
- Thưa cháu chào
cụ ạ!
Sau đó mẹ chàng dẫn
chàng đến trước “dàn chào” giới thiệu với từng người. Chàng ngạc nhiên quá đổi,
ngoài số người già chàng không quen biết mà mẹ chàng giới thiệu là họ hàng,
chàng còn gặp cả một vài người trẻ mà hình như là họ đã chết từ lâu rồi,
sao bây giờ lại gặp cả ở đây? Như ông Chánh, là người chú của mẹ chàng, Vĩnh phải
gọi bằng ông, nếu chàng nhớ không lầm thì ông Chánh đã chết ở VN lúc gia đình
chàng sang Mỹ đoàn tựu được vài năm, chàng tuy thắc mắc nhiều nhưng chưa tiện hỏi
gì cả vì thấy mẹ và mọi người đang tíu tít chào hỏi nhau, vui mừng vì lâu ngày
mới được gặp lại nhau. Lợi dụng lúc mọi người không để ý, chàng chuồn ra khỏi
nhà, tha thẩn dạo quanh trong làng quan sát, đa số nhà trong làng đều là mái
tranh vách đất, sao chỉ riêng nhà cụ Tham là vách gỗ, ba gian, mái cong lợp
ngói trông thật là lịch sự. Vậy làng Âm là làng nào trên thế giới này? Sao
chàng chưa nghe ai nhắc đến bao giờ? Mà trời hôm nay cũng âm u thật lạ, chẳng
trông thấy ánh mặt trời đâu cả.
Cứ thế, chàng nhởn
nha đi một lát đến một phiên chợ làng, kẻ qua người lại thật tấp nập, người mua
kẻ bán rao hàng ơi ới. Chàng dừng lại bên một hàng bán trâm, bán kẹp tóc đàn bà
bởi chàng vừa thoáng trông thấy một cô má lúm đồng tiền giống hệt cô gái ban
sáng mà chàng đã được nhìn thấy định đi theo vào làng thì lại gặp mẹ chàng nên
bị mất dấu. Chàng chưa kịp hỏi gì thì cô bán hàng lên tiếng:
- Thưa ông! Mua mở
hàng hộ cháu đi ạ!
Chàng liếc cô gái
má lúm đứng sau cô hàng xén cười làm quen:
- Tôi là đàn ông,
mua kẹp để làm gì?
Cô hàng xén lém lỉnh:
- Thưa! Ông mua
làm quà cho bà nhà.
Chàng cầm lấy một
cây trâm khắc hình cành trúc khá đẹp, ngắm nghía rồi bạo dạn chìa ra làm quen với
cô má lúm:
- Tôi chưa có bà
nhà, hay cô thử cài lên đầu cho tôi xem có đẹp không rồi tôi mới
mua.
Cô má lúm đồng tiền
thẹn thùng quay ngoắt đi nhưng cô hàng xén đã vội vàng níu lại:
- Chị ơi! Giúp em
một tí nào, từ sáng đến giờ em chưa bán được cái nào đấy! Rồi cô nhanh nhẩu giật
lấy cây trâm trên tay Vĩnh cài lên đầu cô má lúm, miệng không ngớt xun xoe: Đẹp
quá! Người tên Trúc, cài cây trâm trúc thật là hợp.
Vĩnh không bỏ lỡ
cơ hội chen vào:
- Thật là đẹp!
Vâng cô nói đúng! Cô Trúc đây cài cây trâm này thật là hợp. Vậy tôi mua cây
trâm này, bao nhiêu hở cô?
- Dạ thưa ông hai
hào rưỡi ạ!
Chàng lấy ra một
đô la đưa cho cô hàng xén nói:
- Biếu cô hẳn một
đồng, khỏi thối.
Cô hàng xén trố mắt
nhìn tờ giấy bạc trên tay Vĩnh hỏi:
- Thưa ông! Tiền
này là tiền gì ạ?
Vĩnh đáp:
- Là tiền
đô.
Cô hàng ngạc
nhiên:
- Thưa tiền đô là
tiền gì ạ? Chúng em không có xài tiền này ạ!
Vĩnh ngớ người:
- Thế các cô xài
tiền gì?
Cô hàng giải
thích:
- Chúng em xài tiền
ở đây. Rồi cô chìa cho Vĩnh xem mấy hào bạc lạ hoắc mà chàng chưa từng được thấy
bao giờ.
Sợ lỡ mất cơ hội
làm quen với người đẹp má lúm, chàng lật đật giải thích:
- Tôi vừa mới đến
nhà cụ Tham, đi chơi thế nào lại lạc đến đây, cô có biết đường về nhà cụ Tham
không? Làm ơn chỉ hộ tôi, tôi về xin tiền mẹ tôi, thể nào mẹ tôi cũng có, rồi
tôi trở ra mua giúp cô.
Cô hàng xén cười
chỉ vào cô má lúm nói:
- Thế thì may cho ông quá! Chị Trúc là cháu cụ Tham đấy! Chị
ấy có việc ra chợ bây giờ xong rồi cũng sắp về, rồi cô kéo tay cô má lúm giục:
Chị dẫn đường đưa hộ ông đây về nhé!
Bây giờ mới thấy cô má lúm lên tiếng:
- Ơ hay nhỉ? Đằng í cứ sắp xếp mọi chuyện rồi bắt tớ phải
làm theo là thế nào?
Vĩnh vớ ngay lấy cơ hội:
- Dạ xin chào cô Trúc, hoá ra là “người nhà” cả, tôi cũng là
cháu cụ Tham (kỳ thực chàng cứ nhận bừa là bà con chứ có nghe mẹ nói gì đâu) nếu
có thể, nhờ cô Trúc đây dẫn đường chúng ta cùng về? (Chàng nói dối để được dịp
làm quen với Trúc chứ có lạc thật đâu mà dẫn đường với chỉ đường).
Thế là chàng danh chánh ngôn thuận sánh vai bước bên người đẹp
ung dung “đường thênh thang một cõi “chúng ta” về...”. Thỉnh thoảng chàng liếc
trộm Trúc, nhận thấy gái quê sao cũng có cô đẹp thế nhỉ? Chàng gợi chuyện:
- Lạc đến cái làng này tôi có cảm tưởng như đang sống trong
tiểu thuyết của các ông Thạch Lam hoặc Thế Lữ. Cô có đọc tiểu thuyết của các
nhà văn ấy không?
Trúc e thẹn lắc đầu:
- Bẩm ông! Em không được đi học ạ!
Chàng ngớ người chợt nhớ ra:
- Phải rồi! Cái làng này đang trở về thời phong kiến xa xưa,
đàn bà, con gái là không được đi học, sợ viết thư cho trai, đúng
không?
Trúc đáp nhỏ:
- Bẩm ông! Đúng như vậy ạ!
Chàng nhìn quanh quất thấy chẳng có ai ăn mặc giống như
mình, ngay cả những người chàng quen trước kia, (hình như họ đã chết) bây giờ gặp
lại họ ở đây cũng thấy họ ăn mặc y như người trong làng. Chàng ngạc nhiên hỏi
Trúc:
- Tại sao nhìn thấy tôi ăn mặc “khác người” như thế này mà
các cô không ngạc nhiên?
Trúc giải thích:
- Bẩm ông! Người làng chúng em đã quen quá rồi ạ! Thỉnh thoảng
cũng có người lạc “xuống” đây, rồi từ từ họ cũng phải “nhập gia tùy tục” thôi
ông ạ!
Chàng nhận thấy Trúc tuy không được đi học nhưng nói năng lễ
phép, đoan trang, hiền hậu. Chàng cảm thấy vui vui trong lòng khi nghĩ quả là
không uổng thời gian đi lạc đến làng này nên bạo dạng đùa:
- Thế thì chắc tôi cũng phải “tùy tục” quá! cô Trúc có muốn
cho tôi “nhập gia” không?
Trúc thẹn thùng, mặt đỏ bừng lên đáp lí nhí:
- Bẩm ông! Em không biết ạ! Rồi cô chỉ tay ra phía trước nói
lãng: Kìa! Đến nhà rồi, ông cứ đi thẳng vào cửa chính, em vào cửa sau bếp...
Không để cho Trúc nói dứt, chàng năm lấy tay Trúc lôi vào
trong nhà:
- Việc gì mà cô phải sợ? Chúng ta có làm gì đâu? Rồi chàng vừa
kéo Trúc vào nhà vừa lên tiếng gọi: Mẹ! mẹ ơi!...
Mọi người đang ngồi quây quần bên chiếc bàn tròn cẩn xà cừ uống
trà nói chuyện, thấy chàng và Trúc xồng xộc chạy vào nhà, cụ Tham không bằng
lòng nhìn sang Trúc mắng:
- Con gái con đứa mày làm cái gì thế?
Trúc rơm rớm nước mắt nhìn sang Vĩnh ngầm trách móc, Vĩnh vội
phân trần:
- Thưa cụ xin đừng trách cô Trúc tội nghiệp! Cháu đi chơi lạc
đường, may gặp cô Trúc đây dẫn đường về nhà, cô ấy đòi đi cửa sau cháu không chịu.
Cháu xin lỗi đã sỗ sàng kéo cô ấy vào cửa chính.
Cụ Tham quắc mắt nhìn Trúc quát:
- Đi vào buồng, nhanh!
Trúc bưng mặt chạy nhanh vào trong buồng, Vĩnh toan chạy đuổi
theo nhưng mẹ chàng đã nhanh nhẹn nắm lấy tay chàng lừ mắt, lắc đầu ngăn chàng
lại. Cụ Tham nhìn Vĩnh thở dài rồi lắc đầu nói với mẹ Vĩnh:
- Thế giới này không phải của cậu ấy. Nếu chưa phải số, tôi
nghĩ bà nên đưa cậu đây trở về lại.
Mẹ chàng buồn bã trả lời:
- Vâng thưa cụ! Cháu biết, quay sang chàng bà tiếp: Thôi
chào cụ Tham đi con, mẹ đưa con ra xe, chỉ đường cho con về lại
LA.
Vĩnh trù trừ liếc mắt nhìn vào trong buồng tiếc rẻ:
- Về à! Sao sớm thế mẹ? Con còn muốn được cô Trúc đưa đi
chơi cho biết làng Âm, con chưa đi hết mà.
Mẹ chàng kéo nhanh chàng ra ngoài gắt nhẹ:
- Sao con không biết nghe lời mẹ.
Chàng nhìn thấy chiếc xe ngựa đã chờ sẵn từ bao giờ, nhưng lần
này là xe một ngựa chứ không phải là xe hai ngựa như ban sáng nữa, chàng ngạc
nhiên chưa kịp lên tiếng hỏi thì mẹ chàng dục:
- Lên xe ngựa, mẹ đưa con trở lại xe của
con.
Chiếc xe ngựa “leng keng” kéo thật nhanh, chẳng mấy chốc đã
đến nơi chiếc xe hơi chàng đậu. Hai mẹ con xuống khỏi xe ngựa, chưa kịp bước
lên xe của chàng, Vĩnh chợt nghe có tiếng con gái gọi gấp rút đằng sau lưng:
- Cụ Phán! Bẩm cụ chờ cháu với ạ!
Hai mẹ con ngạc nhiên quay lại thì thấy Trúc cũng vừa từ
trên một cỗ xe ngựa khác bước xuống chạy đến bên hai người, dúi vào tay Vĩnh một
cây trâm cài tóc cười nói:
- Biếu ông cây trâm trúc... sau này tặng cho bà nhà... rồi
quay mình bước nhanh lên xe ngựa như chạy trốn.
Chàng nhìn cây trâm cảm động, một chút xao xuyến dâng lên
trong lòng, chàng gọi to:
- Trúc! cô Trúc!
Mẹ chàng giục:
- Muộn rồi! Chúng
ta đi.
Hai mẹ con chui
vào trong xe hơi của chàng, mẹ chàng chỉ tay về phía trước nói tiếp: Con cho xe
chạy một đỗi nữa thì có chỗ cho con vòng lại. Chàng làm theo lời mẹ dặn, lái
vòng lại được một lát, chàng nhìn thấy thấp thoáng phía đằng trước có một ngã
ba khá rộng, mẹ chàng lên tiếng:
- Con đỗ lại ở
đây được rồi! Cho mẹ xuống, con cứ đi tiếp đến ngã ba phía trước quẹo mặt là ra
đến đường cái.
Vĩnh ngừng xe lại
ngạc nhiên hỏi mẹ:
- Mẹ không cùng về
với con à?
Mẹ chàng mở cửa
bước xuống xe ôn tồn:
- Mẹ còn nhiều việc
phải làm, mẹ con ta chỉ có duyên đến đây! Bà bùi ngùi vuốt đầu chàng như hồi
chàng còn bé nói tiếp: Con lớn rồi, phải biết tự lo lấy thân, nhá! Thôi xe ngựa
đến rồi, mẹ đi đây.
Vĩnh có cảm tưởng
như mẹ nói lời trăn trối, chàng với tay chực ôm giữ lấy bà lại nhưng bà đã
nhanh nhẹn nhẹ như gió thoảng, lướt một cái đã ngồi vào trong cỗ xe ngựa. Và lần
này cũng lại là xe hai ngựa như hồi đầu, Vĩnh hốt hoảng thật sự, chàng gọi như
thét:
- Mẹ! Mẹ!...
Chiếc xe ngựa với
tiếng lục lạc “leng keng” lướt nhanh, nhạt nhòa mờ dần vào trong sương khói,
chàng vẫn còn nghe thoang thoảng đâu đây tiếng mẹ dặn vẳng lại bên tai:
- Con nhớ quẹo mặt
phía trước mà đi là về đến nhà...
Chàng cứ dõi mắt
nhìn vào vũng sương mù cho đến khi tiếng nhạc ngựa “leng keng” nhỏ dần, nhỏ dần
rồi mất hẳn chàng mới rồ máy cho xe chạy theo hướng mẹ chỉ. Bầu trời quang dần,
hướng đi đã rõ rệt, chàng xem đồng hồ tay thấy chỉ 4 giờ pm và nhận thấy mình
đang cho xe chạy trên xa lộ số 5 trực chỉ hướng LA, chàng thẫn thờ nhìn vào kiếng
chiếu hậu, không còn thấy bờ đê, bờ ruộng, bụi tre, khóm trúc gì cả. Chàng bàng
hoàng như vừa sực tỉnh qua một cơn mê, trong lòng thắc mắc: Vậy làng Âm là làng
gì? Chẳng lẽ là làng ma à? Chàng đưa tay sờ lên ngực, chiếc trâm cô Trúc tặng vẫn
còn cộm lên trong túi áo, chàng lấy ra ngắm nó, tưởng tượng đến nụ cười của
Trúc với đôi má lúm đồng tiền mà lòng hoang mang không hiểu gì cả.
Tám giờ tối hôm
đó Vĩnh mới về đến nhà, Quỳnh Dao vừa gặp chàng là òa lên khóc ôm lấy chàng kể
lể:
- Mẹ mất rồi anh
biết không? Em điện thoại cho anh hoài mà không có được.
Vĩnh thẩn thờ:
- Mẹ mất bao giờ?
Quỳnh Dao nức nở:
- Vừa mới sáng
nay thôi! Thấy mẹ đã khoẻ, bác sĩ cho biết nếu không có gì xảy ra mẹ sẽ được
về, em mừng quá nên điện thoại báo cho anh biết ngay,
rồi về nhà lo
chút chuyện định đến trưa sẽ vào thăm mẹ tiếp, nào ngờ em chưa kịp vào thì
nhà thương báo mẹ đã đi rồi! Quỳnh Dao ôm mặt khóc hu hu
lên.
Vĩnh nhớ lại chuyện
gặp mẹ ở làng Âm, chàng hấp tấp hỏi nhanh:
- Mẹ mất hồi mấy
giờ?
Quỳnh Dao sụt sịt:
- Đâu khoảng 12
giờ 15 pm. Y tá bảo lúc 11 giờ 45 họ vào thăm nom thì mẹ còn sống, nhưng đến 12
giờ 30 họ trở vào lần nữa thì mẹ đã ngưng thở, họ cho biết mẹ bị “heart attack”
và ra đi trong khoảng 12 giờ 15 trở lại.
Vĩnh ngạc nhiên
quá đỗi, chàng đi lạc vào làng “Âm” khoảng 12 giờ rưỡi. Chàng nhớ rõ lúc đó
chàng có xem đồng hồ tay, có lẽ là khoảng thời gian mẹ chàng vừa mới mất, duyên
cớ gì lại run rủi cho chàng tiếp xúc được với mẹ và những người ở bên kia thế
giới? Lại quen biết được với cô Trúc và được tặng một cây trâm cài? Nếu chỉ là
chuyện mơ hồ không có thực thì tại sao chàng lại cầm được cây trâm cài trong
tay và đem về? Thật là khó hiểu, Vĩnh không làm sao giải thích nổi.
Đám tang mẹ xong
xuôi, Vĩnh dồn hết tất cả những ngày phép lại làm một chuyến về Việt Nam tìm đến
bà cụ Chánh (vợ ông Chánh ở làng Âm) để tìm hiểu về cụ Tham và cô Trúc là những
người mà chàng chưa được rõ ràng về giây mơ rễ má, liên hệ họ hàng ra sao?
Chàng thành thật kể lại câu chuyện chàng đi lạc ngay sáng hôm mẹ mất cho bà
Chánh nghe, được bà giải thích như thế này: Làng Âm có lẽ là cõi âm mà các cụ
ta ngày xưa hay nói “sống gởi thác về”, bà cũng đã từng nghe các cụ nói đó là
thế giới của những người đã chết. Bên thế giới đó! Họ cũng có những sinh hoạt y
như thế giới của người sống, nhưng họ không được văn minh như thời đại bây giờ,
mà lại ở vào cái thời xa xưa thật là xưa như Vĩnh đã có duyên được chứng kiến
khi đi lạc vào thế giới của họ. Chiếc xe hai ngựa rước mẹ chàng đi người ta gọi
là xe “Song mã”, dùng làm xe đám ma, để chở người chết mà thôi! Người sống chẳng
ai đi xe hai ngựa bao giờ. Ông già râu tóc bạc phơ tên là cụ Tham kia chẳng có
họ hàng bà con gì với nhà Vĩnh cả, chỉ là một cụ già cao tuổi có uy nhất làng (ở
ngoài Bắc trước năm 1954) được mọi người kính nể thế thôi! Còn cô Trúc vẫn là một
bí mật đối với Vĩnh vì bà Chánh không biết một tí gì về người con gái này cả.
Vĩnh trở về Mỹ mà trong lòng buồn vời vợi, cứ lôi cây trâm của Trúc tặng ra mà
ngắm mãi.
- “Biếu ông cây
trâm trúc... sau này tặng cho bà nhà...”
