Ông Trần Văn Mạnh có một mối tử thù bất cộng đái thiên với ông Phan Văn Lịch. Ông thề trước bàn thờ tổ tiên rằng nếu ông chết đi mà không trả được mối thù này thì con cái ông phải trả cho ông, đứa nào không trả được thì coi như là con bất hiếu, không xứng đáng được hưởng gia tài ông để lại, không được mang giòng họ Trần của gia tộc, chết xuống suối vàng mà ông gặp được thì ông nhất định sẽ giộng cho một đạp…
Câu chuyện bắt đầu vào ngày xưa, rất xưa ở Việt Nam nhưng
ông Mạnh không thể nào quên được. Cả hai người đều là bạn nhau lúc còn hàn vi
áo vải. Ông Mạnh làm nghề công chức còn ông Lịch làm nghề buôn bán. Thời gian
trôi qua, cuộc đời thăng trầm của hai người này biến chuyển theo... tỉ lệ ngược.
Nghĩa là ông Lịch làm ăn ngày một khá giả còn ông Mạnh thì ngày càng sa sút.
Ông Lịch lần lần trở thành một nhà giầu có nhất tỉnh. Con cái ông ta là đứa thì
kỹ sư bác sĩ, đứa thì đi lính không hiểu làm nên chức gì mà đeo một lần tới ba
bốn cái bông mai bạc trắng xóa cổ áo. Ngày Tết ngày lễ con cái tề tựu về xe cộ
cứ nườm nượp ra vào cái cổng nhà làm bụi bay mù khắp xóm. Trái ngược lại, nhà
ông Mạnh thì nghèo rớt mùng tơi. Ông làm công chức lương ba cọc ba đồng, tính
tình lại thật thà không biết ăn nói không biết nịnh bợ nên dù tận tụy đi sớm về
trễ 20 năm mà vẫn không mua được chiếc xe Honda cho cậu con trai lớn đi học. Cậu
con trai mới lớn, thấy hàng xóm bạn bè của mình đứa nào nếu không Suzuki thì
cũng Yamaha, còn mình thì ngày hai buổi đạp chiếc xe đạp cọc cạch đến trường
nên nhiều khi lấy làm đau khổ. Thỉnh thoảng cậu con trai nhân dịp bố vui vẻ
cũng mớm ý hỏi xin bố mua cho một chiếc xe. Ông Mạnh chỉ nhìn con chua xót:
- Con trai, bố thương con bố, bố cũng muốn cho con chiếc xe
Honda để đi với chúng bạn lắm nhưng bố đâu có tiền con. Tiền ăn ngày hai bữa mà
bố cũng chưa chắc lo được thì tiền đâu mà mua xe cho con" Con thương bố
con ráng ăn học nên người để mai này giúp bố nuôi các em con.
Cậu con trai là loại hiếu thảo nên nghe bố tâm sự não nùng
như vậy thì hiểu ý ngay, từ đó không dám đòi hỏi gì nữa, chỉ lo ăn học. Rồi sau
nhiều cố gắng cậu cả đậu được cái bằng tú tài II hạng ưu. Ngày đó là một ngày
trọng đại trong đời ông Mạnh. Từ nhỏ đến giờ ông chỉ có hai ngày trọng đại:
ngày thứ nhất là ngày ông cưới bà Mạnh, ngày thứ hai là ngày ông được mướn vào
làm thư ký trong tòa hành chánh. Hôm nay sau bao nhiêu công trình dưỡng dục, thằng
con cả ông đậu tú tài, ông phải liệt ngày này vào trong những ngày trọng đại của
đời ông. Hai bố con ngồi nói chuyện với nhau, cả hai đều đồng ý rằng nhà tuy
nghèo, nhưng nên mượn tiền mở một buổi tiệc nho nhỏ để thết đãi quý thầy cô,
quý hàng xóm và bạn bè. Hai cha con đồng ý xong, mặt mày hớn ha hớn hở, chỉ chờ
sự chấp thuận của bà Mạnh là ra sau nhà giết gà mổ lợn liền.
Bà Mạnh đang ngồi giặt đồ sau nhà với đứa con gái thì ông Mạnh
gọi lên. Bà linh cảm được có chuyện quan trọng sắp sửa xảy ra nên rửa tay chạy
lên. Nghe ông Mạnh trình bày ý kiến xong, bà thả người xuống ghế, nét mặt rầu rầu:
- Bố nó nói đúng. Con mình đã cực khổ nhiều nay nó nên thân
thì cũng nên làm một cái gì để ghi nhớ ngày này. Nhưng bố nó xem, lấy đâu ra tiền
mà tiệc với tùng. Phú quý thì mới sinh lễ nghĩa được, mình đang chạy gạo vắt
giò lên cổ thì lễ nghĩa với ai"
Ông Mạnh rót chén nước trà, tu một hớp rồi nhìn bà Mạnh:
- Bà này chỉ được cái kỳ đà cản mũi. Con mình bây giờ đã làm
ông tú, mai kia nếu có đi lính thì cũng làm quan, còn đi làm công chức thì thế
nào cũng có ngạch có trật đàng hoàng, nó sẽ phụ giúp được mình. Vả lại nhà hơn
hai mươi năm nay chưa có tiệc tùng đãi đằng ai cả. Còn cái này nữa, con nó cũng
đã đến tuổi cặp kê, mình cũng phải làm cái gì để chuẩn bị kiếm cho nó một cô vợ
chứ. Vấn đề tiền bạc, tôi đã có cách rồi.
Nghe đến đây, mắt bà Mạnh sáng rực lên:
- Cách gì, ông nói tôi nghe thử"
Ông Mạnh đắc ý vuốt chòm râu:
- Bà lúc nào cũng coi thường bố con tôi. Này nhé, tôi nói bà
nghe, bà có nhớ ông Lịch không"
Bà Mạnh bỗng khựng người lại. Gì chứ ông Lịch thì bà còn lạ
gì. Hơn hai mươi năm qua, mỗi ngày đi bộ qua dãy nhà tường cao bát ngát của ông
Lịch, ngàn lần như một, không lần nào bà không thấy đau nhói trong tim. Bà buồn
vì chồng mình không có lẹ tay lanh mắt như người ta, buồn vì bà Lịch và bà ngày
xưa cùng xuất thân nghèo hèn, nay khá giả sao bà Lịch đã vội quên bạn bè...
Giác quan thứ sáu của bà báo cho bà biết vụ này có cái gì không ổn. Đang suy
nghĩ thì ông Mạnh tiếp lời:
- Thằng... ơ ông Lịch với anh là chỗ bạn bè biết nhau từ thuở
còn mặc quần thủng đít, để anh qua bên ấy mượn vài chục ngàn làm bữa tiệc, tiện
thể mời ông ấy qua nhà mình để chung vui luôn.
Bà Mạnh nghi ngại:
- Đã hơn hai mươi năm, ông còn nhớ người ta không biết người
ta còn nhớ đến ông không"
- Bà hễ mở miệng ra là nói toàn chuyện bi quan không. Đàn bà
quả thật vô tích sự. Thì cứ để tôi qua bên ấy xem có chết thằng Tây nào không
đã. Thằng cả là con của bà luôn chứ đâu phải chỉ là con của tôi không đâu"
Ý tôi đã quyết, bà đừng có cản. Vô lấy bộ đồ để tôi mặc đi qua nhà ông Lịch.
Ông quay sang cậu cả:
- Mày cũng thế, thay đồ đẹp đẽ để đi với tao.
Hai cha con được mời ngồi ở phòng khách nhà ông Lịch. Phòng
khách sang trọng không chịu được. Ông Mạnh suốt cả hai mươi năm qua, đây là lần
đầu tiên ông bước vào phòng khách nhà người bạn thuở xưa. Cái gì cũng mới cũng
đẹp, cũng mắc tiền. Đây là hòn non bộ, kìa là chậu cá, chỗ nọ khe nước nhân tạo
chảy róc rách nghe êm tai chả khác nào đứng bên giòng suối. Trong một giây phút
động lòng ông Mạnh bỗng thấy thương cho số kiếp của mình. Con vua thì làm vua,
con thầy chùa thì đi quét lá đa. Ông quay nhìn thằng con trưởng nam đang ngồi
bên phải mình, xem thử nó có tướng quét lá đa hay không. Ông hơi ngạc nhiên khi
thấy khuôn mặt nó bình thản, không có vẻ khúm núm như ông. Ông thầm nghĩ:
“Không chừng thằng bé này lại làm được chuyện gì cho giòng họ chăng"”.
Đang suy nghĩ thì ông Lịch bước ra.
Ông Lịch, bẵng đi một thời gian không gặp vẫn béo tốt như dạo
nào. Chưa kịp nói, cái mồm ông đã cười toe toét ra, hai tay giơ lên làm như gặp
được một tri kỷ lâu ngày lắm. Ông Mạnh thấy ông Lịch tiếp đãi mình như vậy rất
lấy làm khoái chí, mối hằn học, mối cay đắng chấp chứa từ bao nhiêu năm nay bỗng
biến mất hết. Trước mặt ông bây giờ là một thằng Lịch dễ thương ngày nào, một
thằng Lịch cùng đi bắt cá, đi ăn cắp ổi chung, một thằng Lịch đá banh tuy không
giỏi nhưng ai cũng khiếp sợ nhờ tài chơi xấu, banh không thèm đá mà cứ đá vào cẳng
người ta. Không ngờ sau mấy chục năm, thằng Lịch bạn của ông vẫn không thay đổi.
Ông hơi tự trách mình có vẻ vì mang mặc cảm nghèo nên mới xa lánh người giầu chứ
chưa chắc ông Lịch đã muốn xa lánh ông. Hai người nói chuyện tầm phào một chập,
ông Lịch đưa tay áo nhìn đồng hồ làm như sắp sửa đi đâu:
- Anh Mạnh hôm nay qua thăm tôi chắc có chuyện gì... cần bàn
không"
Ông Mạnh hít thở hai ba lần để lấy can đảm, rồi thú thật với
ông Lịch là nhân dịp cháu đậu tú tài ông muốn mượn vài chục ngàn để làm tiệc ăn
mừng cho cháu, và nhân tiện, ông cũng mời gia đình ông Lịch sang chung vui với
cháu một thể. Khuôn mặt ông Lịch đang vui sướng bỗng xẹp xuống một lèo như cái
bong bóng xì. Ông xua tay lia lịa:
- Tôi... gia đình tôi bận lắm rồi. Thôi tôi cảm ơn bác tôi
không đi được đâu. Tuần tới tôi mắc bận đi ăn tiếp tân tại phủ thủ tướng, xong
rồi còn phải lo thu xếp quần áo đi Pháp lo coi lại cái còm măng hàng hóa xem tới
đâu rồi. Còn cái vụ tiền thì chờ tôi một tí, để tôi vào xem coi.
Ông đứng dậy đi vào nhà trong bỏ mặc bố con ông Mạnh ngồi
chưng hửng nơi phòng khách. Ông Mạnh không thể ngờ rằng thằng Lịch bạn ông
ngoài mặt thì niềm nở thân thiết như thế kia, tưởng có thể chết cho bạn bè được
mà trong ruột thì khô khan keo kiệt không thể nói được. Ông đã toan đứng dậy đi
về nhưng nghĩ đến khuôn mặt của thằng con trai, của bà vợ hiền, ông liền ráng
vuốt nóng ngời chờ đợi.
Gần mười lăm phút sau, ông Lịch trở ra. Ông tiến đến gần ông
Mạnh, tay trái chìa ra một tờ bạc giấy 500 đồng, tay phải dơ ra bắt tay ông Mạnh,
giọng nói rất kẻ cả:
- Chỗ anh em nói thật bác đừng buồn, người Việt mình có câu:
“Liệu cơm gắp mắm”. Cái gì bác thấy không kham nổi thì đừng có làm. Nhà bác
nghèo, con cái có đỗ đạt thì cũng chỉ nên mua kẹo đậu phụng về uống với nước
trà tầu để ăn mừng; làm gì lại phải đi vay mượn cho thêm công nợ". Tôi cho
bác mượn tiền rồi mai mốt bác không trả được thì không lý chỗ anh em tôi lại
kêu phú lít đến bắt bỏ tù bác à". Đây, tôi biếu bác 500 đồng để về muốn
làm gì thì làm tùy thích.
Nghe xong lời dạy dỗ của người bạn, xém tí xíu nữa thì ông Mạnh
ngã té xỉu xuống nền nhà. Mắt ông long lên, trợn tròn lại tưởng có thể bay phọt
ra ngoài cắm vào cái mặt bẩn thỉu kia. Suốt đời ông, ông đã bị hạ nhục nhiều lần,
như lần đi nhậu đứng đái bậy bên cột đèn bị thằng cảnh sát hăm he đòi bỏ bót để
ông phải hạ mình năn nỉ... nhưng chưa có ai hạ nhục ông như lần này. Trong giây
phút nóng nảy, ông muốn xông tới thò tay nắm lấy cái cổ đầy mỡ của ông Lịch mà
cắn một phát cho nó phụt máu ra rồi thiên hạ có muốn đem ông đi giết hay đi ở
tù gì cũng được. Nhưng trong lúc ngút lửa hận thù đó, bỗng tự nhiên ông trở nên
bình tĩnh lạ thường. Ông thầm nghĩ: “Mình bây giờ là kẻ nghèo, thất thế sa cơ,
nếu mình đánh nó là mình dại. Chưa biết có làm gì nổi nó không nhưng chỉ tổ khổ
vợ khổ con. Vả lại, đời xưa có nói: “Người quân tử trả thù ba năm chưa muộn”.
Chi bằng bây giờ ta cứ làm mặt tự nhiên, cầm lấy tờ giấy bạc bố thí từ tay thằng
khôn này, đem về để trên bàn thờ để nuôi chí phục thù. Ngày nào đó, ta làm ăn
nên rồi sẽ bố thí cho nó tờ giấy bạc này”.
Thế là ông vận hết nội công để nở một nụ cười, cầm lấy tờ giấy
bạc từ tay ông Lịch, cúi đầu thật sâu để cảm ơn rồi dắt thằng con trai lớn ra về.
Rồi thời gian qua, tờ giấy bạc 500, tang chứng của mối nhục
gia đình nằm trên bàn thờ tổ tiên đã đổi màu, bụi đóng lên hàng mấy lớp mà mối
thù vẫn chưa trả được. Nhiều hôm cúng giao thừa, ông vừa lạy vừa sụt sùi khóc
khẩn cầu tổ tiên cho ông trả được mối thù trước khi chết...
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày vui của ông Mạnh. Ông chẳng
phải là Việt Cộng, hay là dân nằm vùng gì, nhưng ông mừng là ông muốn để ý xem
gia đình ông Lịch xoay xở thế nào trong cuộc thay đổi đời này.
Đúng y như ông dự đoán, gia đình ông Lịch thay phiên nhau đi
tù. Từ ông bác sĩ, ông trung tá xuống cho đến cậu út kỹ sư mới ra trường ai
cũng ôm chiếu đi trình diện tuốt luốt hết. Sau khi khu nhà vila sang trọng bị tịch
thu làm của công cho nhân dân, ông Lịch bỏ đi biệt tích. Ông Mạnh có ý tìm kiếm
mấy lần nhưng không được, sẵn có một chuyến vượt biên do người bạn tổ chức, ông
bèn dắt vợ con phóng tuốt lên thuyền theo bạn ra khơi, không quên đem theo tờ
giấy bạc 500 đồng Việt Nam gói rất kỹ trong xì líp chung với tờ giấy một đô la
để dành. Đối với ông, mối thù vẫn chưa được trả, nếu trời cho ông đi lọt chuyến
này, ông nguyện sẽ cúng một con heo và sẽ kiếm cho được ông Lịch để trả cho được
mối thù kia…
Trời dường như cảm thông với những khổ cực của ông, cho ông
vượt biên đến nơi an toàn, tuy ông không có cúng con heo như lời hứa ngày nào
nhưng trời cũng không lấy thế làm buồn, cứ cho ông dắt vợ con qua đất Mỹ tỵ nạn.
Tính đến ngày hôm nay thì ông đã ở thành phố New Orleans gần sáu năm, đã mua
nhà mới, sắm xe mới, chiều chiều hay xách vợt đi đánh tennis và nuôi thêm cả
chó cho nó hợp thời trang. Cuộc sống của ông bây giờ rất thoải mái nhưng không
phải vì thế mà ông quên mối thù cũ với ông Lịch. Ông thỉnh thoảng cũng có dò hỏi
tin tức kẻ thù. Có người đồn là ông Lịch đã chết, có người đồn là ông Lịch đã
vượt biên rồi qua Pháp...
Hôm nay, một buổi chiều đầu xuân, đang quần xà lỏn ngồi ăn
Crawfish thì thằng con út chạy vào đưa cho ông một cái thơ. Nhìn cái bì thơ,
ông biết ngay lá thơ này nếu không đến từ trại tỵ nạn thì cũng đến từ Việt Nam.
Ông đã quá quen với những lá thư từ trại và Việt Nam gửi qua xin tiền rồi, ngần
ngừ toan cất đi để tối đọc thì bỗng cái hàng chữ của người gửi làm ông giật
mình, con crawfish đang nhai nửa chừng xém bắn ra ngoài làm thằng con út phải
đăm đăm mắt nhìn để chuẩn bị... né. Lá thơ đến từ trại tỵ nạn Thái Lan có tên của
người gởi là Phan Văn Lịch, kẻ tử thù của ông.
Ông dẹp liền cái vụ ăn uống, rửa tay chân lên phòng khách ngồi
bóc thơ ra xem. Đại khái ông Lịch tả cảnh mấy đứa con đều đi học tập chưa về, vợ
ông đã mất cách đây hai năm vì quá đau buồn, còn ông đã bán hết gia tài được ba
lượng vàng để ra đi. Nay ông Lịch đã nằm trên đảo gần hai năm mà vẫn không được
cứu xét chờ đi Mỹ vì ông không thuộc phải thành phần quân nhân cũ, và cũng
không có thân nhân gì ở Mỹ. Ông Mạnh càng đọc đến nỗi đau khổ của ông Lịch thì
ông càng cảm thấy khoái chí trong lòng như vừa uống được một loại rượu quý.
Trong đầu ông bỗng hiện về cái hình ảnh của buổi chiều ông bị làm nhục cách đây
vài chục năm nhưng ông thấy như mới ngày nào. Có thế mới biết con tạo xoay vần,
ông Lịch ngồi rung đùi thầm nghĩ. Ông lại nghĩ không chừng ông bà mình linh thiệt,
tết này phải mua một con heo thật lớn để cúng.
Tính toán một chặp ông quyết định ngày mai sẽ gởi một lá thơ
qua tòa đại sứ Mỹ ở BangKok. Ông sẽ vu khống cho ông Lịch là cộng sản và đề nghị
họ gởi trả ông Lịch về Việt Nam. Nói là làm, ông mở tủ lạnh thưởng cho mình một
chai bia rồi lấy giấy bút ra thảo lá thơ.
Bà Mạnh đi làm về thì lá thơ đã được thảo xong. Bà thấy chồng
hôm nay có vẻ vui hơn mọi ngày nên tưởng là ông Mạnh vừa thắng football. Nhưng
nghĩ lại, bà thấy vô lý vì mùa football đã hết từ lâu. Nghe đứa con gái nói bố
vừa nhận được thư ở Việt Nam, bà liền hớn hở:
- Có tin tức gì ở Việt Nam không ông"
- Có cái tin này còn hay hơn cả tin ở Việt Nam nhiều bà ơi.
Tin thằng Lịch.
Mặt bà Mạnh thoáng lên một chút ngạc nhiên:
- Ông ấy lúc này thế nào ông"
- Đang ở đảo, đói quá chịu không nổi nên mới biên thư qua nhờ
mình bảo lãnh.
- Ông ấy có đem vợ con theo được không ông"
- Được con khỉ, chạy lấy thân là may quá rồi, là gì còn tiền
bạc mà đem con cái theo. Quân vô luân khốn nạn, chuyến này nó mới sáng con mắt
ra.
Bà Mạnh ngạc nhiên vì thái độ của ông chồng, bà không hiểu
ông chồng mình đã uống mấy lon bia rồi mà sao có vẻ... quá mồm. Bà nhíu mày:
- Ông nói gì lạ vậy, đàng nào cũng là bạn bè với nhau ngày
xưa. Tôi không hiểu ông được.
Ông Mạnh vỗ bàn:
- Bà chả biết cái con khỉ gì cả. Thế bà còn nhớ ngày xưa lúc
thằng cả thi đậu tú tài không. Tôi qua mượn tiền nó, nó lại bảo nên liệu cơm mà
gắp mắm, rồi cho tôi 500 đồng bạc. Bà coi, nó làm nhục tôi đến như vậy mà bà bảo
quên được à"
Thì ra vậy. Bà Mạnh sống với chồng đã lâu, ít khi thấy chồng
để ý thù ai bao giờ. Hôm nay trên đất khách quê người, sau bao nhiêu năm chung
sống, bà không ngờ chồng lại có một nỗi lòng ẩm ức từ đời nào mà lại giữ kỹ
trong lòng, chưa hề hé răng nói cho bà biết. Bà kéo cái ghế ngồi xuống bên chồng,
nhẹ nhàng hỏi:
- Thì có chuyện gì ông nói cho tôi nghe với nào, vợ chồng ăn
ở với nhau đã mấy chục năm, ông có giấu tôi điều gì đâu"
Ông Mạnh lấy một lon bia, làm một hớp chi tiêu bớt giận hờn:
- Bà không nhớ hôm ấy à" Tôi nhớ lúc ấy nhà nghèo quá,
thằng cả thi đỗ tú tài tôi muốn làm một bữa tiệc cho con trước là để khoe hàng
xóm sau là để kiếm cho nó một con vợ. Đi qua nhà nó chầu chực, tưởng nó còn
chút lương tri bạn bè, nhân thấy mình túng quẫn, nó cho mình mượn chút ít để về
làm tiệc. Nó đã không cho rồi lại còn sỉ nhục giòng họ nhà mình.
- Ông ấy sỉ nhục thế nào"
Ông Mạnh phát cáu lên, không hiểu sao mụ vợ mình hôm nay lại
bày đặt lý sự chất vấn đủ điều. Ông lườm bà Mạnh một phát ý chừng như muốn bảo
ông đã cáu lắm rồi:
- Bà này chỉ được nước hỏi móc họng. Này nhé, nó bảo tôi nên
liệu cơm mà gắp mắm, rồi còn “mo ran” cho tôi một bài học về cách xài tiền. Đù
mẹ tiên sư bố nhà nó. Tôi nghèo tôi xài tiền thế nào kệ bố tôi, có mắc mớ gì đến
nó mà nó phải dạy dỗ cho tôi"
Bà Mạnh bỗng bật cười lên một tiếng nhỏ. Ông Mạnh thấy thế
thì lại càng sôi gan lên, ông toan mở miệng thì bà đã cướp lời:
- Thế nếu ông Lịch hôm ấy dúi vào tay ông một mớ tiền cho
ông mượn thì ông ấy là người bạn tốt hay sao"
Ông Mạnh khựng người lại, không trả lời được câu hỏi kỳ quặc
của vợ mình. Bà Mạnh tiếp:
- Nói thật với ông, tôi thấy ông ngày nào cũng đi họp với
hành tham gia tổ chức này tổ chức nọ, hễ mở miệng ra là hôm nay đòi về nước,
mai đòi về nước. Cái kẻ thù nguy hiểm nhất nó nằm ngay trong con người ông mà
ông chưa diệt nổi thì ông đòi diệt ai"
Thấy ông Mạnh ngồi trầm ngâm như đã thấm ý, bà Mạnh tiếp:
- Tôi chỉ là hạng phụ nữ chân yếu tay mềm, đáng lẽ ra chỉ phải
lo việc bếp núc trong nhà, còn chuyện quốc gia đại sự thì để cho mấy ông, nhưng
thấy ông nhiều lúc vô lý không chịu được"
Ông Mạnh bực lắm, vào những ngày xưa ở Việt Nam mà bà Mạnh
dám lý sự với ông như thế này là đã có chầu ăn bợp tai, nhưng bây giờ ông chỉ
còn biết ngồi nghe bà Mạnh giảng luân lý.
Bà Mạnh cười khẩy:
- Ông khỏi phải lo chuyện chết không nhắm mắt được, bên Mỹ
này các nhà đòn đám ma họ sẽ lo vuốt mắt, tô điểm mặt mày cho ông. Ông để tôi hỏi
ông câu này, đồng ý là ông Lịch đã làm nhục ông. Ông cho đó là nhục, tại sao
lúc đấy ông không chống lại hay chửi lại ông ta"
- Bà tưởng tôi ngu à" Lúc ấy nó giầu, mình nghèo, mình
chống nó để chết à"
- Tôi thì nghĩ khác. Tôi nghĩ là ông hèn. Bị người làm nhục
mà không dám làm gì là hèn. Chờ cho đến khi người ta thất cơ lỡ vận rồi mới lên
mặt đòi trả thù thì còn hèn hơn.
Ông Mạnh không tin ở cái lỗ tai mình, không ngờ con mẹ Mạnh
ngoan ngoãn ngày nào hôm nay bỗng bị quỷ ám hay uống thuốc liều hiệu gì mà dám
lăng nhục ông như vậy. Trong cơn nóng giận, ông chụp lấy cái gạt tàn thuốc ném
xuống sàn nhà vỡ tan tành.
Bà Mạnh đứng lên, giọng không hề có chút sợ hãi:
- Lần sau có ném thì ném cái gì quý cỡ vài trăm bạc để mình
còn mua cái khác, ông ném cái gạt tàn thuốc chưa tới một đồng bạc, không gây được
“tiếng vang” lại mất công mẹ con tôi dọn dẹp... Trở lại chuyện của ông, tôi thấy
ông từ lúc sang đây, ông đã bao nhiêu lần bảo tôi là ông khinh những thằng ngày
xưa ở Việt Nam, nghe xếp hét một tiếng là chạy xịt cứt ra quần, những thằng
ngày xưa gặp người ta cách mười thước đã dở nón chào thật sâu, rồi đứng khúm
núm bên lề đường nhe răng cười cầu tài quên mất cả phẩm cách mà mới sang tới Mỹ
đã gọi xếp cũ là thằng này thằng nọ... vân vân. Ông thử nghĩ lại xem ông có hơn
bọn nó không"
Trời cho mỗi người một bàn tay và ý chí, ai chịu khó làm ăn
thì giầu. Vả lại sự giầu sang của ông Lịch đâu phải tự dưng mà có được, ông ấy
cũng đâu phải hạng tham nhũng hại dân" Ông ghen tức chỉ vì ông thấy người
ta có nhà cao cửa đẹp, còn những lúc người ta cực khổ làm ăn trong khi ông ngày
ngày hai bữa sáng cắp ô đi tối cắp ô về thì ông không thấy. Nhờ trời phật phù hộ
sang được đến đây rồi, thay vì tận dụng chút sức thừa còn lại của tuổi già để
làm việc giúp đỡ đồng bào, ông lại xử sự như một đứa con nít. Ông phải giải
phóng ông khỏi cái đầu óc nhỏ hẹp đầy tầm thường nhỏ mọn, ai nói động một câu
là nhớ cho đến chết, cái lòng ích kỷ tự tôn tự đại, cái gì có tôi quyết định
thì mới xong được. Nếu ông giải phóng cho ông được những chuyện đó, ông khỏi cần
về nước, cứ ở lại đây thì sự có mặt của ông đã là một hãnh diện của cộng đồng
Việt Nam rồi.
Bà Mạnh nói một hồi không cảm thấy mỏi miệng nhưng cảm thấy...
mỏi chân, liền ngồi xuống ghế. Ông Mạnh kể từ khi lấy vợ, cứ tưởng vợ mình cù lần
nên rất ít kiêng nể, hôm nay thấy vợ tự dưng xổ liền một thôi toàn những lời
văn hoa lý lẽ, đầy đủ Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín như đức Khổng Tử thì đâm ra kiêng nể.
Ông thầm nghĩ mụ vợ mình không chừng có thể ra tranh cử chức
Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Hạnh Phúc Gia Đình tại New Orleans được, nếu kẹt lắm thì
chắc cũng tóm được cái chân Tổng thư ký. Ông thò tay lấy cái lá thư “chụp mũ” vừa
thảo xong vò nát đi.
Bà mạnh nhìn ông dịu dàng:
- Ông có nhớ ngày mình mới vào đất Mỹ không" Bọn Mỹ với
mình, không cùng họ hàng, không cả cùng chủng tộc mà đã đối xử với mình lúc ấy
là những kẻ sa cơ như những người bạn, giúp đỡ rất tận tình. Ngày hôm nay, ông
Lịch, người Việt Nam đồng chủng, người bạn già của ông vừa bị ngã ngựa, con cái
đứa thì chết dở trong tù, đứa thì không biết lưu lạc nơi đâu, ông thấy có chạnh
lòng không" Ông Lịch là người khôn ngoan, trước khi đặt bút viết lá thư
này chắc cũng đã hiểu tâm trạng của ông. Ông ấy nếu là người thường chắc chẳng
bao giờ dám viết thơ đến nhờ vả ông. Đã dám viết thơ cho ông tức là ông ấy đã hạ
mình, chấp nhận là kẻ hèn kém chỉ để mong chờ vào cái sự quảng đại của mình.
Ông ấy tốt xấu thế nào thì mình khó mà biết, nhưng mình hẹp hòi hay độ lượng
thì mình biết được mình ngay. Hơn nữa, nói thật với ông, già cả hết rồi, còn sống
được bao lâu mà để hận thù nó làm đời mình mất vui đi.
Ông Mạnh ngồi cúi đầu suy nghĩ, nhớ lại lời nói của vợ, nhìn
vào đáy cái khay đồng trên bàn, chợt nhận ra đầu mình đã hai màu tóc. Ông thở
dài, nắm tay vợ:
- Mới ngày nào cùng thằng Lịch đánh đáo mà bây giờ tóc đã điểm
sương rồi. Mau thật, Thời gian đi mau thật.
Ông quay vào nhà gọi lớn:
- Thằng út đâu, lấy cái bản đồ ra đây để tao kiếm đường ngày
mai lên Hội đồng công giáo bảo lãnh bác Lịch bên đảo qua.
