Lời giới thiệu của tác giả: Cứ mỗi độ
tháng Tư về, lòng tôi lại thôi thúc muốn viết về nỗi đau chưa hề quên từ năm
1975. Điều may mắn là bài viết năm 2026 không chỉ có những hoài niệm buồn về cuộc
thua oan nghiệt năm xưa mà nhen nhóm niềm hy vọng mới vì có những 'măng non' đã
trưởng thành và cùng nhau góp sức để đem lại niềm an ủi cho những người lính bị
bỏ quên.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, mộng hoa niên của của các thương binh Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã xa như chuyện từ kiếp khác. Chỉ còn những điều xảy ra ngày họ rơi xuống đáy vực xã hội là ám ảnh mãi, nhất là mỗi dịp vòng xoay trái đất đem mùa Xuân trở lại.
**
Ngày 1 tháng 5, 1975, anh Th bị quăng ra khỏi bệnh viện.
Choáng váng ngồi trên vỉa hè, ngước lên thấy cờ đỏ rợp trời, cúi xuống nhìn máu
thấm ướt băng, anh Th nghĩ lần này mình không còn hy vọng sống. Anh dựa lưng
vào tường, nhắm mắt lại. Và cả cuộc đời cơ cực chầm chậm quay về…
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện
Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về
nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông
Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai.
Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích
phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm
mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ
hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh
Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa
Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư
Đoàn 1.
Thời gian trong quân ngũ là những năm tháng đầy tự hào đối
với anh Th. Nhưng chưa được bao lâu thì quân đội VNCH cạn vũ khí và rơi vào
tình trạng ngặt nghèo. Tháng Ba, 1975, Sư Đoàn 1 đang ở miền Trung, bị Cộng
quân tấn công ác liệt. Họ phải vừa đánh vừa rút, nhưng đi đến đâu dân chúng
cũng ùn ùn chạy theo nên cuộc lui quân trở nên rất khó khăn.
Ngày 23 tháng 3, 1975, khi đoàn quân về đến quận Hương
Trà, Huế, anh Th bị trúng mìn rất nặng. Đồng đội vừa chống cự với mưa pháo, vừa
tải thương, khi về đến Thuận An thì mọi người đều kiệt sức. Các chiến sĩ vội
đưa những người bị thương vào bệnh viện rồi rút ngay.
Lúc đó, đạn pháo vẫn nã xối xả vào thành phố nhỏ xíu này;
các nhân viên y tế đã tản cư hết, bệnh viện không còn ai ngoài những thân xác bất
động, đầy máu của các thương binh. Anh Th nằm mê man suốt một ngày. Mãi đến
sáng hôm sau, mấy bà soeur ở nhà thờ Thuận An mới lén chạy ra, kéo các anh vào
trong nhà thờ, dùng nước sôi rửa vết thương và băng bó tạm. Một lần nữa, anh Th
sống sót nhờ những bàn tay dịu dàng của các soeur.
Ngày 26 tháng 3, 1975, Huế mất. Sau đó, “chính phủ lâm thời”
chuyển tất cả thương binh Quốc, Cộng về trạm xá ở An Dương. Lúc này, vết thương
đã quá nặng, các bác sĩ đành cưa hai chân anh. Không có thuốc mê, khi lưỡi cưa
đi qua chân, anh Th hét lên rồi không biết gì nữa. Khi tỉnh lại, anh thấy người
chòng chành, trời đất tối sầm. Cả ngày sau anh mới nhận thức được rằng mình đã
bị cụt cả hai chân, mất bốn ngón tay, và mù mắt phải. Lúc đó, anh mới mười chín
tuổi!
Sau mười ngày ở trạm xá An Dương, anh Th được chuyển về Bệnh
Viện Trung Ương Huế. Anh nằm ở đó khoảng một tháng, không biết gì về tình hình
chiến sự bên ngoài. Trong suốt thời gian đó, “ủy ban quân quản” giữ lại nhiều
bác sĩ và nhân viên y tế cũ để làm việc cho họ nhưng thuốc men còn lại chỉ dành
riêng cho thương binh Bắc Việt. Không trụ sinh, không cồn, không thuốc xức nên
vết thương ở chân của anh Th cứ lở loét dai dẳng mãi…
Trời đã chiều, cơn đói cồn cào làm anh Th bừng tỉnh dậy.
Đang ngơ ngác nhìn quanh, thì cánh cửa nhà trước mặt hé mở. Một phụ nữ đưa vội
cho anh một ca nước và một ổ bánh mì, nhìn sâu vào mắt anh rồi nhẹ đóng cửa lại.
Giây phút đó, anh Th quyết định níu lấy sự sống.
Lê lết trên đường với những vết thương chưa kín miệng, anh
Th qua khỏi là nhờ những củ khoai, bát cháo, và chút bông băng, thuốc sát trùng
của bà con trong chợ Đông Ba. Thỉnh thoảng anh có gặp lại vài đồng đội, cả Đại
Đội Trưởng cũ. Người vã mồ hôi trên chiếc xích lô, người cắm mặt đẩy xe thồ, kẻ
mệt mỏi bên thùng thuốc lá, gặp nhau hỏi han, tâm sự vài câu, dúi cho mấy đồng
lẻ, rồi vội vã chia tay để tránh sự hạch hỏi của công an và những đôi mắt cú vọ
của đám người theo gió trở cờ.
Đầu năm 1976, nhà cầm quyền mở cuộc truy quét ăn xin, anh Th
bị bắt đem về Lao Thừa Phủ ở Huế. Sau 6 tháng, anh bị đưa về trại Hoàng Cát Tê
2 ở Cam Lộ, Quảng Trị, nơi giam vài ngàn người, bao gồm tù hình sự, tù chính trị,
và cả những người lang thang không nhà.
Tại đây, mỗi phòng có tới mấy chục người nằm san sát trên những
mảnh chiếu cói; bệnh tật lây lan, đói khát triền miên nên rất nhiều người đã chết.
Dù tật nguyền nhưng sức trẻ đã giúp anh Th cầm cự suốt ba năm. Sau khi được thả
ra, không có một người thân nào trên đời, anh Th phải lê về Đà Nẵng rồi lại bị
bắt vào trại lần thứ hai. Ra trại một thời gian ngắn, anh Th bị bắt lần thứ ba
khi đang lang thang ở Quy Nhơn. Tổng cộng anh đã trải qua chín năm trong ba trại
tập trung. Cuối cùng, anh đã học được cách trốn về các vùng quê hẻo lánh để
tránh những cuộc bố ráp trước các ngày lễ lớn.
Rồi anh trôi dạt về Sài Gòn. Những ngày đầu ở thành phố này,
anh Th sống bằng nghề hát dạo. Buộc hai miếng vỏ xe quanh đầu gối làm dép, anh
Th đã cùng hai người bạn khuyết tật khác đi khắp bến xe, bãi chợ, đem tiếng đàn
hát đổi rau, cháo qua ngày.
Vài năm sau, khi tiếng ca đã khàn, anh Th chuyển qua nghề
bán vé số được khoảng chục năm rồi xoay sang bán đồ chơi trẻ em, lây lất kiếm sống
trên hè phố cho đến nay.
**
Với nhiều người, những nụ hoa đầu tiên bật nở là dấu hiệu
báo Xuân. Nhưng, với tôi, đó là những hình ảnh đen trắng của những người lính
VNCH và những câu chuyện mùa Xuân 1975.
Năm nào cũng thế, từ giữa tháng Ba, những người lính miền
Nam cũ thường đăng lại chuyện xưa trên internet. Bằng hình ảnh, bằng những nhóm
chữ -- ngắn thôi – nhưng đầy chua xót. Chẳng hạn như “tháng Ba gãy súng” hay
“tuyến đầu thất thủ”. Và năm nào cũng thế, ký ức buồn trong tôi lại trở mình.
Tuy nhiên, tôi hiểu rằng dù có quý mến, thông cảm đến thế
nào thì tôi cũng chẳng bao giờ hiểu hết được tâm trạng của những người lính đã
phải bó tay chấp nhận bàn cờ thua năm ấy. Mỗi năm, khi mùa Xuân đến, những ký ức
nặng trĩu lại làm họ thao thức nhiều hơn. Họ buồn cho số phận nước nhược tiểu,
họ thương xót mãi cho các đồng đội đã gục ngã khi còn quá trẻ, và họ cũng không
nguôi băn khoăn về những chiến hữu đang phải vùi chôn quá khứ, không dám công
khai dù chỉ một lời tiếc thương những người bạn đã mất. Bởi vì, với tuổi già đã
đến trong những thân thể không còn nguyên vẹn, những người đó vẫn đang sống
trong sự nghèo khổ, nghi ngờ và chèn ép. Đó là những thương binh của Quân Lực
VNCH còn ở lại Việt Nam.
Hơn năm mươi năm sau khi chiến tranh chấm dứt, hố ngăn cách
giữa những người được hưởng quyền làm giàu và những người mất một phần thân thể
khi chiến đấu cho bên thua cuộc càng rộng mênh mông. Các thương binh
từng mòn mỏi đợi chờ một phép lạ đem họ ra khỏi cảnh khốn cùng, nhưng nay điều
đó đã thành vô vọng. Ngoài gia đình, thường cũng nghèo khó, họ chỉ có một nơi
duy nhất để trông mong chút giúp đỡ, đó là cộng đồng người Việt tỵ nạn ở hải
ngoại.
Nhưng, sau nhiều năm làm việc thiếu minh bạch của một vài cơ
sở phía tổ chức cùng với một số sai sót từ phía người nhận, rất nhiều người hảo
tâm – kể cả một số cựu quân nhân VNCH – đã trở nên chán nản. Họ đáp lại những lần
quyên góp bằng sự im lặng hay câu nói “nào biết tiền đến tay ai…”
Rất may, còn có những hội ái hữu của các binh chủng như Tổng
Hội Thủy Quân Lục Chiến VNCH (TQLC) và Gia Đình Mũ Đỏ (GĐMĐ) vẫn lưu giữ hồ sơ
chính xác, được cập nhật thường xuyên về các đồng đội kém may mắn, và công bố
chi thu rõ ràng hàng năm.
Tôi đã có dịp tham gia chương trình quà Tết tặng các thương
binh ở Việt Nam của các hội này. Họ làm việc bằng trách nhiệm và uy tín, công
khai và cẩn trọng, nên được nhiều tin cậy. Từ đó, những thương binh thuộc các
binh chủng này được quan tâm nhiều hơn. Dù một vài lần quà mỗi năm không thể
nuôi sống họ, nhưng đó là điều an ủi tinh thần rất quý. Những người khốn khó nhất
vẫn là thương binh của các sư đoàn bộ binh và địa phương quân, nghĩa quân.
Không có hội đoàn nào nhận là giữ danh sách của họ, không có tổ chức nào theo
dõi về hoàn cảnh hiện tại của họ. Rất nhiều người vừa nghèo, vừa già yếu đang sống
vất vưởng trong bệnh tật, nghèo đói và sự lãng quên.
Mùa Xuân 2025 là một mốc lịch sử lớn khiến nhiều người bâng
khuâng nghĩ đến những mất, còn sau năm mươi năm đằng đẵng. Với sự góp sức
của gia đình và bạn bè, chúng tôi đã gom góp được một ít tiền để tặng cho các
thương binh, như lời nhắn nhủ rằng vẫn có những người nghĩ đến họ. Nhờ sự giúp
đỡ tận tình của GĐMĐ, tất cả số tiền chúng tôi thu góp đã được trao tận tay ba
mươi ba thương phế binh của Nhảy Dù, Biệt Động Quân, và cả một số địa phương
quân. GĐMĐ đã gửi tôi biên nhận để trừ thuế cùng với danh sách những người đã
nhận quà với đầy đủ chi tiết, nhiều người còn kèm cả số quân.
Số quân!
Tôi cứ tưởng trong những ngày khủng hoảng, tăm tối nhất sau
30 tháng 4, 1975, khi mà một quyển sách cũng có thể trở thành lý do buộc tội,
thì những gì liên quan đến quân đội VNCH đã bị đốt sạch. Vậy các số quân này là
do những người thương binh còn dấu giấy tờ hay họ vẫn ghi nhớ trong đầu suốt nửa
thế kỷ qua? Có phải họ vẫn nuôi hy vọng những bằng chứng này sẽ cứu giúp họ khi
ngặt nghèo? Vậy trong năm 2025, khi những cay đắng, thiệt thòi, tủi nhục trở về
rõ nét, điều gì có thể an ủi họ, để cho họ thấy rằng những chắt chiu, trông đợi
của họ không là vô nghĩa?
Sau nhiều phân vân, cuối cùng tôi chọn đi về Việt Nam để
thăm một nhà dưỡng lão ở Cần Giờ nơi các linh mục Dòng Chúa Cứu Thế cưu mang một
số thương binh VNCH không nơi nương tựa. Dù chỉ nhìn thấy nơi này một lần trên
YouTube, tôi tin mình có thể hỏi thăm và tìm được.
Người trả lời là anh S, thương binh của Sư Đoàn Nhảy Dù. Khi
tôi gọi, anh ấy đang chống nạng đi bán vé số ở Quận 10. Tôi hỏi thăm anh về nhà
dưỡng lão ở Cần Giờ, anh S cho biết anh đã từng ở đó, nhưng chỗ đó hiện giờ
không còn là nơi nương thân cho thương binh VNCH. Từ ngày nhà cầm quyền đến quản
lý, các Cha đã bị đổi đi xa, các thương binh tan tác, người lết về quê bám víu
họ hàng, kẻ lê về Sài Gòn kiếm ăn qua ngày trên khắp các nẻo đường.
Tôi hỏi anh S có cách nào cho tôi gặp vài anh từng sống ở Cần
Giờ, anh S nói,
“ Có vài người vẫn còn liên lạc với nhau. Dù đa số đang sống
ở ngoại thành, tôi sẽ gọi họ đến.”
Tôi ngập ngừng,
“Ở ngoại thành đi vào thành phố xa xôi quá. Các anh lại di
chuyển khó khăn, vất vả cho các anh quá…”
Anh S mau mắn nói,
“Không sao, cô đừng ngại! Có người còn quan tâm, chia sẻ,
các anh ấy mừng lắm! Gặp nhau trò chuyện ấm lòng lắm, cô ơi.”
Tôi nhờ anh S tìm một quán ăn, anh trầm giọng,
“Ra quán người ta nhìn ngó, không thoải mái đâu. Thôi, cứ
ghé phòng trọ của tôi, tuy chật chội nhưng mấy anh em được ngồi bên nhau là vui
rồi.”
Thế là chúng tôi hẹn nhau, 10 giờ sáng thứ Năm.
**
Chúng tôi đến nơi hẹn rất đúng giờ, nhưng các anh đã có mặt
từ sớm. Căn phòng nhỏ xíu, cửa mở rộng để lấy chỗ cho hai chiếc ghế thấp dành
cho chúng tôi.
Anh S và anh B, hai thương binh Nhảy Dù, ngồi trên chiếc giường
nhỏ kê sát vách ngăn bằng gỗ. Ngồi bệt trên sàn, dựa lưng vào tường là anh Th
thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, anh A thuộc Biệt Động Quân, và anh M thuộc Pháo Binh.
Sau lời giới thiệu, anh Th -- người thương binh bị ném ra cửa
bệnh viện Huế năm 1975 -- chào đón chúng tôi bằng một bài nhạc lính. Giọng anh
vẫn còn khỏe nhưng buồn; anh làm tôi nhớ lại tiếng hát thê thiết của những
thương binh hát dạo ở các bến xe, quán chợ, với những bài hát não lòng đã từng
ám ảnh tôi từ ngày còn bé.
Rồi các anh kể cho tôi nghe những điều mà đã lâu họ không
chia sẻ với ai…
Đa số thương binh VNCH còn ở tại Việt Nam là lính trơn hoặc
hạ sĩ quan. Đó là những người xông lên đầu tiên sau tiếng hô “Xung phong” nhưng
không đủ ngày tháng bị tù để được hưởng chương trình HO.
Tuy nhiên, khi nhắc lại những tháng ngày băng rừng, lội suối,
tử thần rít ngang tai, họ vẫn nghĩ rằng đó là những ngày vui. Thời gian đó, họ
chịu nhiều gian khổ nhưng được tự hào, hy vọng. Sau khi bị thương tật rồi miền
Nam sụp đổ, tất cả chỉ còn là tủi nhục và đau đớn. Một số người có gia đình làm
nơi bám víu, nhưng rất nhiều người không có hoặc không muốn làm phiền người
thân, đành sống vất vưởng bên lề xã hội.
Trong suốt năm mươi năm qua, chỉ có một lần họ thấy lấp lóe
chút hy vọng...
Đó là năm 2010, khi Hòa Thượng Thích Không Tánh ở chùa Liên
Trì, Quận 2 khởi đầu chương trình Tri Ân Thương Phế Binh VNCH. Sau bao năm bị
lãng quên, sự quan tâm của Hòa Thượng đã như một dòng nước mát tưới lên những mảnh
đời cằn cỗi. Các thương binh bảo nhau tìm đến, ngày càng đông. Năm 2013, Hòa
Thượng Thích Không Tánh đã trao lại công tác này cho các linh mục ở Nhà Thờ
Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng. Các Cha đã cố gắng hết sức để thực hiện các chương
trình giúp đỡ cần thiết như chữa bệnh, phát thuốc, và làm chân tay giả cho các
thương binh ở quanh Sài Gòn, cũng như giúp họ tìm cách mưu sinh.
Tiếng lành đồn xa, số thương binh đến với chương trình mau
chóng tăng cao. Năm 2017, tổng số lên đến gần năm ngàn người. Mỗi năm, vào dịp
cận Tết các linh mục còn tổ chức họp mặt. Thương binh trên khắp các miền đất nước
đã được tài trợ lộ phí để về hội ngộ. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi, ăn uống,
ca hát, hàn huyên, khi ra về mỗi người còn được chút tiền sắm Tết.
Trong thời gian này, Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng đã xây được
hai căn nhà ở khu Lộc Hưng, Phường 6, Quận Tân Bình. Trước năm 1954, khu đất
rộng khoảng 48,000 mét vuông này thuộc quyền sở hữu của Hội Đồng Quản
Trị Công Giáo Sài Gòn (hiện nay là Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn). Điều này có
tài liệu rõ ràng và được chính quyền thành phố lúc đó thừa nhận.
Năm 1954, Hội Đồng Quản Trị Công Giáo Sài Gòn cho vài chục
gia đình con chiên mới di cư vào Nam cất nhà sinh sống ở đây dưới hình
thức cho thuê đất hoặc ở nhờ. Người dân ở đây phần lớn kiếm sống bằng
nghề trồng rau, tuy vất vả nhưng họ rất cần cù và ngoan đạo. Qua ba thế hệ, mảnh
đất hoang đầy cỏ dại ngày trước đã trở thành một xóm đạo khang trang, có cả một
nhà thờ, một đài Đài Đức Mẹ và nhà nguyện. Khu này được gọi với tên mới là
Vườn Rau Lộc Hưng.
Sau năm 1975, người dân ở Vườn Rau Lộc Hưng vẫn đóng thuế đầy
đủ, nhưng đến năm 1999, các cơ quan nhà nước nói rằng họ không có phép sử dụng
đất và không nhận tiền thuế của họ nữa. Người dân đã miệt mài khiếu nại từ cấp
địa phương đến trung ương nhưng chẳng nhận được hồi đáp rõ ràng. Họ cứ sống bấp
bênh trên mảnh đất do chính tay họ khai phá, và trông mong vào sự công bằng của
nhà cầm quyền.
Hai căn nhà do Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng xây lên tại Vườn
Rau Lộc Hưng được đặt tên là Nhà Đơn Thân; đó là nơi trú ngụ của mười tám
thương binh không có gia đình. Đối với hầu hết các anh, đây là lần đầu tiên
trong mấy chục năm, họ có một nơi để gọi là “nhà”. Ban ngày họ vẫn bôn ba
kiếm sống trên khắp nẻo đường, nhưng ban đêm họ có một nơi để trở về. Ở đó, họ
có được bữa cơm nóng, gặp được những người mà họ có thể chia sẻ buồn vui. Và họ
cảm thấy bình an.
Nhưng, chỉ vài ngày trước Tết năm 2019, công an đột ngột kéo
đến bao vây khu Vườn Rau Lộc Hưng. Người dân chỉ kịp quơ vội vài món quý giá
trước khi sáu xe ủi đất đến san bằng hơn năm trăm căn nhà, trong đó có cả hai
ngôi Nhà Đơn Thân.
Các thương binh bị xua ra khỏi nhà trong vài phút, nhiều người
không kịp đem theo thứ gì, ngay cả chiếc chân giả hay cặp nạng. Vài người lê được
đến Nhà Thờ Chúa Cứu Thế, số còn lại phải qua đêm ngay trên lề đường hay dưới
hàng hiên của những người dân có lòng trắc ẩn.
Thế là, ở tuổi bảy, tám mươi, những mảnh đời khốn khổ lại
tan tác. Khi dịch Covid bùng phát ờ Sài Gòn, rất nhiều người đã không qua khỏi.
Một số người sống sót phải về quê nương tựa ở họ hàng, còn những người không có
nơi bám víu thì theo các Cha về nhà dưỡng lão ở Cồn Dầu. Khi cơ sở Cồn Dầu cũng
bị chiếm để làm việc khác, các linh mục phải gửi các anh về vài nhà trọ mà chủ
là các con chiên trong họ đạo. Lúc đầu các Cha còn giúp tiền thuê phòng hàng
tháng, nhưng sau đó quỹ cũng cạn, chỉ còn chút ít cho những trường hợp đau yếu,
ngặt nghèo.
Cơ sở của Dòng Chúa Cứu Thế vẫn còn trên đường Kỳ Đồng,
nhưng nay các Cha cũ đã bị chuyển đi xa. Các thương binh không còn tìm được sự
an ủi hay giúp đỡ ở nơi đó nữa. Ngày nắng cũng như ngày mưa, khi khỏe cũng như
khi các vết thương gây nhức buốt, họ tự vật lộn với đời bằng chút sức tàn.
**
Trong năm người tôi gặp hôm đó, ngoài anh Th, anh M cũng bị
thương rất nặng, mất hết xương hàm dưới và hai tay co rút. Anh S và anh B đều bị
mất một chân, anh A thì chỉ còn một cánh tay. Các anh đã từng muốn nguôi ngoai,
từng mong hòa hợp hòa giải, nhưng ngày bị đẩy ra khỏi Nhà Đơn Thân với hai bàn
tay trắng và mất cả cái chân giả, anh S đã phải thốt lên,
“Chúng tôi đã ngoài bảy mươi, đâu còn sống được bao lâu mà họ
vẫn truy cùng, diệt tận!”
Hiện nay, hầu hết các anh sống bằng nghề bán vé số. Đã nhiều
năm nay, chỉ hai anh thuộc Nhảy Dù có nhận được quà Tết, ba anh kia không có được
trợ giúp gì từ hải ngoại.
Câu chuyện của các anh làm không khí trong phòng buồn hẳn.
Trong một lúc, tôi chỉ nghe thấy tiếng xè xè của chiếc quạt máy nhỏ ở góc phòng
và tiếng lạo xạo của chuột chạy trên các vách ngăn…
Tôi vội nói vài câu vui và hát tặng các anh một bài chắc lâu
lắm rồi các anh không nghe. “Có những đêm dài, anh ngồi nhìn hỏa châu rơi.
Nghe vùng tâm tư cháy đỏ xoay ngang lưng trời…” (2)
Rồi tôi nói với các anh rằng chúng tôi -- lớp “em nhỏ” thời
chiến tranh Việt Nam, sau này có cơ hội học hành, thành tựu ở nước ngoài -- là
những người đã đi qua cuộc chiến một cách may mắn nhất. Sự may mắn đó một phần
là nhờ sự hy sinh của các anh. Hôm nay tôi trở lại để nói lời cám ơn từ đáy
lòng, để các anh biết rằng có những đứa trẻ năm xưa vẫn nhớ đến các anh, vẫn muốn
đáp lại câu hát “Đến với tôi, hãy đến với tôi, đừng yêu lính bằng lời…”(3)
Trước khi chia tay, tôi hứa sẽ tiếp tục giúp các anh.
**
Ngày tôi đi, một thương binh mới nghe tin, gọi tới xin giúp
đỡ. Vì không còn thì giờ, chúng tôi gọi cho một anh bạn -- cũng là người miền
Nam, để nhờ chuyển chút tiền tặng anh kia. Người bạn từ chối lập tức với lý do
ngại bị liên lụy. “Đói ăn vụng, túng làm càn, ai biết đâu những người ấy…”, lời
nói của anh bạn văng vẳng mãi bên tai tôi trong suốt chuyến về.
Tôi đã chứng kiến sự nghèo khó của các thương binh VNCH,
nhưng, đau lòng hơn, là sự cô đơn của họ. Tôi đã nghe họ tự xưng là “những
người nghèo không ai muốn đụng tới”. Cách đối xử của những người phía bên
kia chiến tuyến làm họ khổ sở, điêu đứng, nhưng sự chối bỏ của những người được
ăn học và lớn lên trên vùng đất họ đã hy sinh thân thể để bảo vệ mới thật là
cay đắng.
Tôi buồn và thất vọng mãi cho đến khi “duyên Facebook” cho
tôi gặp được trang của hội Mỗi Gia Đình Một Thương Phế Binh (MGĐ1TPB), một cơ
quan từ thiện có giấy phép của chính phủ Úc. Ở đó, tôi thấy những tin vui có
kèm hình ảnh của từng thương binh mỗi khi được nhận quà hay có người bảo trợ.
Tôi đọc những lời nhắn cám ơn từ các chú, tuy ngắn gọn nhưng đầy sự biết ơn và
xúc động chân thành. Tôi thấy những bản báo cáo hàng tháng chi tiết đến từng
xu… Sau vài tuần tìm hiểu, tôi quyết định gửi lời qua Facebook Messenger đến cô
ML, người sáng lập hội. Cùng ý tưởng và mong ước nên tôi và ML đã chia sẻ rất
nhiều chuyện về việc giúp đỡ các thương binh.
Năm 1981, cô bé ML 12 tuổi xuống tàu vượt biên cùng người chị
15 tuổi. Sau hơn hai năm trôi nổi ở các trại tị nạn Mã Lai, hai chị em được Úc
cho định cư. Từ đó, ML đã tham gia rất nhiều sinh hoạt cộng đồng và trở thành một
gương mặt trẻ xuất sắc trong việc làm cũng như những công tác thiện nguyện. Cô
từng là Thanh Tra của Bộ Công Lý và Tư Pháp của tiểu bang Queensland, cô cũng nằm
trong mười người trên cả nước được huân chương cao quý “Niềm Tự Hào Nước Úc”
(Pride of Australia) năm 2006. Năm 2024, ML cùng chồng thành lập trang Facebook
MGĐ1TPB để thực hiện ước nguyện nối kết các thương binh và những người có lòng.
Với uy tín, sự chân thành, lòng dấn thân, và cách làm việc
minh bạch, MGĐ1TPB đã trở thành nơi gặp gỡ đáng tin cậy giữa các thương binh và
những người quan tâm ở khắp thế giới. Ngoài cư dân Úc, Hội còn được góp sức từ
châu Âu, châu Mỹ, và ngay cả ở VN. Có những người sống tại VN đã thấy Hội trên
Facebook rồi ghi tên giùm những thương binh già yếu, đơn chiếc, không biết dùng
mạng xã hội. Có một linh mục cũng qua Facebook mà giới thiệu cho những thương
binh ở tận những vùng xa xôi, hẻo lánh. Nhờ thế, chú thương binh cụt hai chân,
không nhà và mấy chú mù cả hai mắt, không biết dùng điện thoại đã có người nhận
bảo trợ. Hơn nữa, bạn Facebook ở khắp nơi đã nối tay chuyển cho Hội biết những
hoàn cảnh ngặt nghèo cần giúp đỡ ngay, nhờ đó chú thương binh bị ung thư mà phải
nằm võng đã có ngay một chiếc giường nằm dưỡng bệnh, và những chú thương binh vừa
vào bệnh viện cũng được ngay một chút quà để chia sẻ khó khăn…
Ngoài tặng tiền, nhiều người bảo trợ đã gọi điện thoại trò
chuyện, và trở thành thân thiết với những thương binh mà họ nhận giúp đỡ dài hạn.
Cũng có nhiều người khác chọn cách gửi tiền vào quỹ chung để Hội giúp hơn một
trăm sáu mươi người nằm trong danh sách đang chờ bảo trợ.
Đối với tôi, Hội MGĐ1TPB là một minh chứng cho lời Chúa dạy
“Hãy tìm thì sẽ thấy”. Tôi đã tìm mãi, tìm hoài và bây giờ đã có một hội từ thiện
cho thương binh VNCH thuộc mọi binh chủng được hoạt động công khai và hoàn toàn
minh bạch trong dòng chính của nền văn minh nước Úc. Tôi thấy một nơi mà mọi
người trên thế giới có thể chung tay. Và tôi thấy một nơi mà người cho có thể
trao trọn niềm tin vì biết chắc từng đồng tiền họ chắt chiu sẽ đến tận tay người
nhận.
Điều ấm lòng nữa là qua các chia sẻ hàng ngày của Hội, tôi
thấy rằng trên thế giới còn nhiều tấm lòng vàng dành cho các thương binh VNCH.
Có những người lớn tuổi “bỏ heo” mỗi tuần để giúp thương binh, có những người
trẻ dù đời còn đầy lo toan vẫn sẵn lòng đưa tay nâng đỡ những cựu chiến binh đã
gãy súng từ trước khi “nhà bảo trợ” chào đời. Có cả những người đang sống ở VN
không sợ phiền phức mà nhận làm bảo trợ, có những người hàng xóm chạy sang giúp
các thương binh già yếu nói chuyện với Hội qua internet, và có những người hăng
hái góp công bằng cách gọi điện thoại tìm hiểu hoàn cảnh, thăm hỏi, và giúp
chuyển tiền đến các thương binh ở khắp nơi, từ hẻm sâu hun hút đến chòi lá tạm
bợ trong góc chợ quê.
**
Khi biết nhiều hơn về các thương binh tôi thấy rõ họ đã đến
lúc như những chiếc lá khô lắt lẻo trên cành. Ngoài những khiếm khuyết trên
thân thể, họ còn có nhiều bệnh từ những năm tháng đói nghèo. Tết 2026 danh sách
thương binh được tặng quà của chúng tôi mất đi năm, sáu người so với năm 2025.
Mới đây, một người lính Dù mất hai chân từ năm mười bảy tuổi được chúng tôi bảo
trợ dài hạn nhưng chỉ nhận quà được hai lần rồi qua đời đột ngột vì trụy tim. Cứ
mỗi lần liên lạc với một người nào không được là chúng tôi lại lo rằng họ đã ra
đi mãi mãi.
Từ ngày thành lập, Hội MGĐ1TPB đã giúp được 625 thương binh.
Nhưng, nếu kể cả các hội ái hữu của các binh chủng và những nơi làm việc hiệu
quả khác, số thương binh đang được quan tâm và nhận ít nhiều giúp đỡ cũng chỉ
là một phần của khoảng ba ngàn thương binh (4) còn lại trên khắp Trung và Nam
Việt.
Họ đã từng là những người lính trẻ với ước mơ, với lời hẹn,
“Đợi hai, ba năm nữa, Quê mình thôi khói lửa, Mời Xuân đến với tôi…” (5) Bây
giờ, họ đã bước vào những năm cuối của cuộc đời, và mùa Xuân thường chỉ gợi lại
dĩ vãng buồn.
Nhưng, từ mùa Xuân năm 2026, một niềm vui đã nhen nhóm. Tôi
tin rằng sẽ ngày càng có nhiều người góp tay với MGĐ1TPB để giúp các thương
binh. Bởi vì có những măng non năm xưa nay đã lớn thành những cây tre vững
vàng, biết tận dụng kỹ thuật tiến bộ vượt bậc của thời đại mới để kết nối – hữu
hiệu và minh bạch -- những tấm lòng tốt trên thế giới với những người đang bị bỏ
quên, để giúp họ nhẹ bớt phần nào những đau khổ từ ngày “gãy súng” năm xưa.
Khôi An
- Thơ
Xuân Đất Khách – Thơ Thanh Nam.
- Những
Đóm Mắt Hỏa Châu – Nhạc và lời Hàn Châu.
- Kẻ Ở
Miền Xa – Nhạc và lời Trúc Phương.
- Con
số này là ước tính của người viết dựa trên danh sách 5,000 thương binh tại
Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng (2017), trừ đi số ước lượng người đã mất do tuổi
già, bệnh tật và đại dịch Covid-19.
