Sau ngày 30.4, me Mỹ, gái bán bar tự động biến mất như cột khói bay vào thinh không. Dân thường cũng không đủ can đảm bước vô thẩm mỹ viện Ngọc Mai. Cuộc sống bị đảo lộn. Tất cả đều tung lên, lộn tùng phèo. Giữ được cái mạng sống là phước ba đời, nói chi chuyện làm đẹp? Cái thẩm mỹ viện lừng danh một thời nay bỗng thành ngôi miếu hoang phụng thờ nhan sắc. Chủ nhân của nó bị ghép tội dùng cơ sở làm ăn này để cung cấp thông tin cho địch. Vậy là a lê hấp, nhà cửa bị tịch thu vì tội làm tay sai cho địch. Tư Nghĩa xách túi đi cải tạo, Cô Mai ngậm ngùi dắt con về nhà ngoại.
Về nông thôn, tưởng đâu có thể tạm rau cà với mẹ, yên ổn qua
ngày. Khổ nỗi, cô có học, có chút nhan sắc, nên trên cho người
xuống vận động cô tham gia vào hội phụ nữ xã. Anh cán bộ trẻ nhìn xoắn vào người
cô như muốn lột truồng ra, vừa nói: “Đất nước ta đã sạch bóng quân thù. Nhiệm vụ
của chúng ta là góp công sức vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng chí không thể
đứng ngoài, phải xốc tới, phải nhào vô để làm cho nước ta giàu hơn thằng Mỹ, mạnh
hơn thằng Mỹ…”.
Cô nghe một bên tai, ừ hử tưởng cho qua chuyện, không
ngờ mấy ngày sau ông giao liên già, khật khưỡng bước vô sân. Con chó thấy kẻ lạ
chồm lên sủa, gầm gừ xua đuổi. Ông giao liên sẵn chiếc loa cuốn bằng tấm tôn
xáng vào đầu con chó. Nó quay tít một vòng vãi ra cứt đái trên khoảng sân gạch.
Cái màu lem nhem, khẳm khẳm đó giống màu nước sơn lâu ngày bị anh họa sĩ không
nẩy ra đề tài mới, tức mình nhúng cọ rẩy bừa xuống sàn nhà.
“Mẹ cứt! Đón tiếp đồng chí đồng bào kiểu gì như kẻ
thù!” Ông kẹp ống loa vào nách, thò tay vào túi áo lôi tờ giấy bèo nhèo ra kêu
lớn: “Cô Mai ơi, cô Mai! Có giấy triệu tập”. Bà Tư lạch bạch từ nhà bếp ló ra:
“Ai đó? Có chuyện chi vậy?”. “Chào đồng chí chị Tư, cô Mai có giấy trên gửi”.
Nói và ông nhét tấm giấy vào tay bà Tư nheo mắt cười cười, quay lui, bước thẳng
ra ngõ. Ống loa tôn kẹp nách quất qua lại theo nhịp bước của ông già đã ba đời
làm chức mõ làng!
*
Hai lệnh, rồi ba lệnh triệu tập nhưng Mai chùng chình, không
muốn tham gia. Nội chuyện lo cho ba miệng ăn trong thời buổi khốn khó này còn
chưa xong, chuyện phải tích góp chút đỉnh để thăm nuôi chồng định kỳ đến tối
tăm mặt mũi, còn ham hố chi hội với hè. Nghĩ vậy và buồn, Mai nằm khoèo ở nhà,
không nhón chân thay mẹ gánh cà, mướp ra chợ như những ngày trước…
Đêm xuống nhập nhoạng. Tiếng chó sủa ngoài ngõ. Ba bóng đen
lù lù bước vô sân. Chó sủa rộ. Mai vặn cao bấc đèn, bưng đưa ngang mặt. “Chào đồng
chí phụ nữ”, tiếng nói vang ngoài sân khàn đục, cố rướn lên như để chứng tỏ sức
mạnh quyền uy một cách lạnh lẽo.
Cả ba bước lên thềm. Mai mời họ ngồi và vặn ngọn vừa đủ sáng
để muội khói không tỏa ra mùi hôi nồng nặc. Lúc ngẩng mặt lên, Mai suýt kêu
thành tiếng, không rõ cảm giác mừng vui hay sợ hãi. Người đàn ông ngồi trước mặt
rõ ràng là Xanh. Ba Xanh, bạn học một thời. Anh ta biến mất hồi đầu năm học Đệ
Ngũ nay bỗng lù lù ngồi trước mặt, ngay trong nhà mình, mặc bộ Tôn Trung Sơn
màu cứt ngựa, nón cối kéo sụp, chiếc sắc cốt lòng thòng bên hông, ngang thắt
lưng nổi cộm lên vật cứng mà cô đoán là cây súng ngắn. Anh ta đến nhà trong tư
thế này, hẳn không thể là sự biểu lộ tình bạn, mà chính xác là một cán bộ cách
mạng đến hỏi tội trì trễ của mình đây. Mai rót nước ra ly, mời họ và kéo ghế,
khẽ khàng ngồi xuống, chờ đợi.
Người đàn ông mà Mai nhận ra là Xanh ngó nghiêng khắp lượt,
mới chịu hắng giọng: “Mạnh giỏi cô Mai, còn nhớ tôi không?”. “Dạ cũng thường.
Lâu quá mới gặp lại anh, không ngờ… ”. “Nghe nói anh nhà đang cải tạo?”. “Dạ”.
Ba Xanh ngó chăm chăm vào bộ ngực phập phồng của Mai dưới
làn vải phin trắng, hạ thấp giọng: “Cải tạo là tốt. Có vậy thì mới thấy hết tội
lỗi của mình. Được cách mạng giáo dục thì mau tiến bộ, rồi đứng về phía nhân
dân xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng chỉ chừng ấy thôi vẫn chưa đủ. Cả người
thân cũng phải tích cực tham gia thì anh nhà mới mau trở về, trở về như một chiến
sĩ cách mạng chân chính”.
Mai dạ một tiếng nhỏ, không chắc lọt vào tai Ba Xanh. Nhưng
có lọt hay không, không thành vấn đề. Vẫn giọng đều đều ấy, Ba Xanh nói rù rì,
rủ rỉ như chỉ có hai người với nhau: “Cô Mai à, tôi rất cảm thông hoàn cảnh của
mẹ con cô. Tôi chỉ muốn giúp vợ chồng cô sớm đoàn tụ. Anh nhà có được về sớm
hay không là tùy thuộc vào cô. Rồi lý lịch con cô nữa, tội nghiệp nó”. Mai nhỏ
nhẹ: “Dạ, về sớm hay muộn là do ảnh có giác ngộ, học tập lao động tốt hay không
chứ sao lại tôi?”. “Cô không biết đấy thôi, mọi sự vật đều có liên quan một
cách hữu cơ, biện chứng. Cái này tác động vào cái kia, đẩy cái kia theo vòng
trôn ốc tiến lên, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội!”. “Dạ, cái trôn ốc tiến
lên, phận tôi đàn bà không hiểu thấu, nhưng chắc chắn được cách mạng giáo dục,
thế nào anh Nghĩa cũng tiến lên cái chủ nghĩa gì đó như anh vừa nói thôi, tôi
tin vậy”. “Đúng là cô không hiểu nổi – rồi ông khục khặc trong cổ như đang có cục
đờm to tướng bám cứng lấy thanh quản – nghĩa là cô phải hồ hởi, phấn khởi tham
gia công tác đoàn thể để thay chồng lập công chuộc tội!”. “Tôi làm được gì
trong những hội đoàn đó?” – Mai dè dặt. “Cô không phải lo lắng. Đảng sẽ mở các
lớp tập huấn chính trị, cô theo học, nắm rõ mục đích, ý nghĩa, nâng cao lập trường
quan điểm thì đá tảng cũng biến thành ruộng cày mà”.
Ba Xanh nói chừng đó, háy mắt với hai du kích vai đeo súng rồi
đứng dậy. Trước khi bước xuống bậc cấp, Ba Xanh còn với một câu: “Tất cả đều phụ
thuộc vào một mình cô đó”. Mai lịch sự đứng dậy tiễn họ ra sân. Ba Xanh cố ý đi
chậm. Khi hai du kích ra tới truông tối, Ba Xanh thấp giọng: “Chẳng gì tụi mình
cũng một thời bên nhau lúc còn nhỏ. Có nhiều kỷ niệm không thể nào quên. Tỉ dụ
hồi đi cổ động hũ gạo nuôi quân, tụi mình mặc độc có mỗi chiếc quần, lẫm chẫm
chạy theo đoàn. Tôi nhớ Mai đưa củ khoai lang lùi tro, vừa cho vào miệng nhai,
vừa há miệng hô theo khiến sặc muốn chết”.
Mai không nhớ chuyện củ khoai lang lùi, người bạn cũ vừa nhắc,
không lưu giữ thương ghét. Nhưng cô nhớ mùa đóng nước tu bổ nông giang, cả đám
xách gàu đi tát cá, bùn đất lấm lem như trâu ngoi. Cô buột miệng: “Hồi đó cũng
vui, nhiều chuyện buồn cười quá”. Ba Xanh phụ họa: “Vui, vui đậm. Giá mình còn
giữ được mãi mãi… bên nhau. Thôi cô cố gắng lên”. Ba Xanh nói giọng phấn khích
rồi bước nhanh theo hai người du kích.
*
Họp hành, hội nghị liên tịch, học tập nghị quyết… liên miên
từ ngày này sang ngày khác khiến Mai không còn đủ thời gian giúp mẹ chăm sóc mảnh
vườn. Những cây cà, dây bí xơ xác, vàng chân như người bị bệnh phù thũng. Đầu
óc Mai căng cứng, mệt phờ phạc, nhưng cũng cố tranh thủ ra giếng kéo cần vọt
xách từng gàu nước đổ vào các hốc cây như bón nước sâm cho người ốm. Xong việc,
lua vội chén cơm nguội ngắt rồi lăn ra ngủ, không còn sức để mắt tới chuyện học
hành của Hậu.
Bà Tư ái ngại nhìn dáng người hốc hác của con gái, thốt lên:
“Hay con xin nghỉ quách cho khỏe, tội nợ gì. Không chó thì mèo, không mèo thì
chó, mất ai”. Mai ngước nhìn mẹ, lòng xốn xang: “Đâu được mẹ. Như vậy tổ chức
kêu là đầu hàng, là phá hoại, là chạy theo địch… khổ lắm mẹ ơi”. “Xì, làm như
mày cầm súng bắn lại người ta không bằng”. “Chuyện đó cũng y như bắn vậy”. Bà
Tư bĩu môi: “Tổ chức cái con mẹ gì lạ kỳ vậy, có tổ…”, bà kịp dừng lại.
Mai chán ngán, loay hoay tìm lối ra. Nhưng càng vùng vẫy thì
càng bị thít chặt hơn. Tối nay lại có cuộc họp liên tịch gì nữa đây. Họp mãi,
làm mãi nhưng nào có thấy “mỗi người dân trong bữa ăn có ly bia, có thịt… mỗi
nhà có tv tủ lạnh” như từng học tập nghị quyết đâu? Chỉ thấy trong nồi cơm,
càng ngày sắn mì chiếm hơn chín phần. Mấy hột gạo khép nép như những cánh hoa
héo núp dưới tán lá rậm rịt! Hết khoai lang hầm tới bo bo cứng như nhai sỏi. Đã
có một vài cán bộ rụt rè đề đạt ý kiến thắc mắc của dân thì được trên giải
thích: “Làm cách mạng phải biết hy sinh. Đó là con đường ngắn nhất để tiến lên
chủ nghĩa xã hội vững chắc”. Ngồi bên dưới, Mai cảm thấy chột dạ.
Mai tới sớm. Ngang qua hội trường trống trơn, cô quay lại vừa
đụng mặt Ba Xanh. Ông cười hề hề đưa bàn tay thô nhám ra nắm lấy tay Mai lắc lắc
và giữ lại thật lâu. Mai rùng mình. “Cách mạng nhìn người không lầm. Cô đúng là
phần tử nhiệt tình, tiến bộ thấy rõ”. Mai chưa kịp định thần xem coi mình tiến
bộ chỗ nào thì Ba Xanh hớn hở nói: “Vô đây, vô đây uống miếng nước cái đã”, và
không đợi Mai có ưng hay không, lôi tuột cô vào phòng: “Ngồi xuống, cô ngồi xuống
đây”, nói và ông tự kéo ghế ra như một người lịch lãm. “Anh nhà yên ổn cả chứ?”.
Mai lúng túng: “Dạ, cảm ơn, cũng thường”. “Ảnh sẽ về thôi, không lâu nữa đâu” –
Ba Xanh hạ thấp giọng. “Dạ”. Mai trả lời và cảm thấy có điều bất thường sắp xảy
ra. Người cô nhột nhạt, cứng đờ. Im lặng một lúc khá lâu Ba Xanh mới lên tiếng,
lần này thì ngập ngừng, ấp úng: “Tôi… Cô có biết… Tôi thương cô chừng nào
không? Vậy mà cô nỡ lòng…”. Ba Xanh nói nhiều, rất nhiều nhưng Mai không nghe
được gì. Tai cô ù lên, mắt hoa. Trước mặt là một khoảng không trắng lốp rồi biến
thành màng đen dập dềnh. Đầu óc ong ong quay cuồng. Cô nhắm mắt lại, hít thở thật
sâu cũng vừa đúng lúc Ba Xanh đứng lên, ôm choàng lấy Mai. “Cô đừng hy vọng thằng
Nghĩa trở về. Tội gián điệp của nó chỉ tù rục xương. Cô hãy lấy tôi. Tôi yêu cô
như cuồng như dại từ khi còn đi học. Tôi bỏ đi cũng chỉ vì cô. Tôi đặt tên con
là Mai chỉ vì tôi không thể nào quên cô. Em là cả cuộc đời của tôi. Xin em đừng
phụ tôi”. Liền theo đó là những cọng râu đâm xuống má như cả một dề gai bàn chải
ấn mạnh vào. Mai có cảm giác như ngực mình cũng đang nhàu nát tựa trái cam bị
bóp dập nhểu nước. Cô vùng dậy với tất cả sức mạnh còn lại, phóng ra khỏi
phòng, chỉ kịp nghe tiếng ghế đẩu ngã lăn, kêu khô khốc dưới sàn. Đầu tóc xổ
tung, cúc áo bung ra trông như một con mụ điên.
Ra tới đầu hồi hội trường, Mai ngồi bệt xuống đất, gục đầu
lên hai cánh tay vòng qua hai đầu gối. Nước mắt chảy ròng ròng như thể trinh tiết
của cô bị xé toạt, máu dầm dề giữa hai đùi.
Một vài cán bộ đi về phía hội trường. Chiếc đèn bão treo lủng
lẳng trên cây xà không đủ sáng để nhận rõ mặt người. Ngoài xa Bảy Lợm xách chiếc
măng xông đung đưa qua lại, vừa rên ư ử câu bài chòi nghe như người nuốt củ
khoai lang bị nghẹn. Mai chùi mắt, vấn lại tóc, cài khuy rồi đứng lên. Lúc Bảy
Lợm trông thấy Mai từ xa, ông đổi sang giọng xuân nữ: “Ối em ơi, sao em
nỡ phụ tình phụ nghĩa, sao em ham tiền ham bạc, đi lấy người ta mà bỏ anh rày…
ày…ày…”. Bảy Lợm dừng lại trước mặt Mai: “Uở, đồng chí phụ nữ tích cực đi sớm
quá hén?”. Mai không trả lời, bước vào ngồi sau băng ghế cuối cùng.
Cuộc họp toàn cán bộ, đoàn thể xã, có đại diện lãnh đạo huyện
tỉnh về dự, mục đích là phổ biến chủ trương vận động nhân dân đóng góp tư liệu
sản xuất, tình nguyện vào hợp tác xã. Buổi họp kéo dài tới khuya. Đầu óc Mai
đông cứng, không nghe, nhớ được điều gì…
*
Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp được phát động rầm rộ.
Trước hết các trường học tập trung tất cả học sinh đi cổ động. Chiếc trống trường
như bụng con voi được hai em nhỏ khiêng đi sau lá cờ đỏ, ráng sức nện tùng
tùng. Hai hàng học sinh nối tiếp nhau rồng rắn, trên tay cầm lá cờ tự chế, gắn
vào que tre bay lơ phơ vì mảnh giấy quá nhỏ và thiếu gió, giả hoặc cầm lâu quá,
mỏi. Bụi tung mù mịt.
Ngồi trong nhà, bà Tư Bủng nhìn ra chỉ thấy màn bụi dày ôm
choàng lấy các em học sinh lếch thếch tách ra từng đoạn, vì đường xa, nắng nóng
và nước miếng dẻo quạnh trong cổ họng. Bà chỉ nghe những âm thanh lục sục, rệu
rạo từ những chiếc miệng há to như miệng con chim con đói mồi: tiến lên… tiến
lên… tiến lên…phấn khởi…phấn khởi… phấn khởi… vững chắc… vững chắc… vững chắc…
Những âm thanh dập dềnh trôi nổi bị sức nóng và sự mỏi mệt chặn lại có lúc bà
nghe như tiếng gào của bầy người hợp sức than khóc ai đó vừa chết một cách tức
tưởi. Bà bỗng nhớ lại những năm Việt Minh nổi lên cướp chính quyền, lập tức các
đoàn thể tổ chức đi cổ động chào mừng cách mạng thành công. Cờ xí rợp trời.
Hoan hô đả đảo khản cả cổ. Vui. Vui như ngày tết, bởi thực dân, tay sai lăn
quay ra rồi. Vui là phải, đèn đuốc sáng trưng, hò hét thâu đêm. Không ngờ những
cây đuốc hừng hực khí thế kia lại mang đến tai họa cho cả làng: Máy bay địch
phát hiện, ném xuống hàng loạt bom xăng. Đám người bỏ chạy nháo nhào. Nhiều phụ
nữ ngã lăn quay kêu la thất thần. Bà Tư Bủng cũng ngã, nhưng cú ngã không bình
thường. Bà ngã nhào xuống như nhiều người đã ngã. Bà vừa bò, nước đái, cứt tự động
chui ra lầy nhầy, sền sệt trong đũng quần. Nhưng bà chỉ có cảm giác mát đít chứ
không ngửi thấy mùi thúi thông thường. Nhớ lại, mắc cỡ lạ lùng, như thể bà đang
vãi ra ngay lúc này.
Đoàn học sinh cổ động qua đi, để lại một màn bụi dày đặc, lửng
lơ trên những tàu lá chuối trong vườn.
Sau đợt cổ động, Mai tham gia vào đoàn công tác, vận động bà
con nông dân tình nguyện làm đơn vào hợp tác. Dựa vào tài liệu trên đưa
xuống, Mai cố gắng giải thích. Nông dân nghe xong nhăn mặt càu nhàu, đốp chát lại
cô cán bộ chỉ còn da bọc xương, mắt sâu hoắm. Nhiều câu hỏi họ đặt ra Mai không
thể nào giải đáp nổi, mà nếu có trình lại trên, chắc trên cũng
không tìm ra lời giải xuôi tai. Địa bàn cô phụ trách chỉ có 98 hộ dân, nhưng trầy
trật mãi cũng mới được 13 hộ làm đơn tình nguyện, số còn lại hoặc ngó mặt nhau,
hoặc chống đối ra mặt. Cô khổ tâm vô cùng. Đôi lúc Mai muốn bỏ trốn. Nhưng trốn
đâu? Mẹ còn đó. Con còn đó. Anh Nghĩa còn đó. Thế nào họ sẽ không ghép tội?
Nghĩ tới nghĩ lui không lối ra, Mai nhét tập tài liệu và đơn tình nguyện in sẵn,
nhủ lòng: mặc kệ, tới đâu thì tới, rồi đạp xe lên Ban chỉ đạo.
Thoáng thấy Mai, Ba Xanh (nay kiêm nhiệm chức trưởng ban chỉ
đạo) hớn hở chìa tay ra từ xa. Hai tay vẫn ôm khư khư cặp tài liệu, Mai nói
ngay để ngăn chặn chuyện đẩy đưa của Xanh: “Báo cáo lãnh đạo, địa bàn tôi phụ
trách không xong, dân thắc mắc này nọ, tôi không thể giải quyết nổi”. “Cô nói
thế là thế nào? Cô phải đả thông tư tưởng, quán triệt nghị quyết trên đưa
ra chớ?”. Mai rời một tay khỏi chiếc cặp da, vén lại cụm tóc lòa xòa trước mắt:
“Tôi đã làm đúng các bước hội nghị đã đề ra, nhưng có lẽ, tôi không đủ sức làm
việc này do năng lực kém, xin lãnh đạo bố trí người khác thay thế, chuyển tôi
qua chỗ nào cũng được. Tôi sẽ hết lòng”. Ba Xanh hơi sững người một chút, vì kế
hoạch sắp tới của ông sắp vỡ. Ông định bụng hôm nào thuận tiện sẽ xuống địa bàn
Mai để kiểm tra đột xuất, rồi sau đó… thừa cơ ứng biến, nhắc lại chuyện ngày
xưa. Giờ thì vỡ thật, hết hy vọng.
Không thấy Ba Xanh nói gì, Mai nhỏ nhẹ: “Báo cáo lãnh đạo,
ngày mai tới kỳ thăm nuôi, tôi muốn xin phép lãnh đạo cho tôi vắng mặt 4 ngày cả
đi và về. Mấy tháng nay công tác lu bu, đã trễ mấy chuyến rồi. Không biết tình
trạng ảnh ra sao, xin lãnh đạo rộng lượng với người bạn cũ”. Nghe nhắc “bạn
cũ”, máu bốc lên mặt, ùn ùn như khói nhà cháy, nhưng ông kịp ghìm xuống, nghĩ bụng
vẫn còn cơ hội: “Cô khéo lo, Ban quản giáo đã nghĩ đâu ra đó, có bỏ đói ai
đâu?”. “Dạ, đành vậy, nhưng trên núi rừng, có thể ảnh bị bệnh này nọ…”. Ba Xanh
cắt lời: “Cô nói sao, bộ chúng tôi ở trên rừng năm này qua tháng khác, trường kỳ
kháng chiến đều lăn ra chết hết? Cách mạng vẫn giành thắng lợi đó thôi”.
Biết không thể đôi co lại Xanh, Mai cúi chào vào nộp biên bản,
báo cáo cho bộ phận tổng hợp. Ba Xanh nhìn theo vừa ngậm ngùi, vừa tức giận.
*
Sau chiến dịch vận động, Mai bị kiểm điểm phê bình gắt gao
vì thiếu trách nhiệm, có tư tưởng lệch lạc, không nhiệt tình cách mạng… và ngồi
nhà chờ lệnh mới. Mai đón nhận với vẻ mặt hớn hở. Hóa ra bị gán cho mấy cái tội
kia trong công việc lại hóa hay, không mất lòng bà con chòm xóm, khỏi phải lặn
lội con cà con kê với dân trong khi họ muốn đuổi xéo mình đi ngay lập tức. Mai
có tham gia hay không thì cái hợp tác hóa kia không thể không thành hình và đi
vào hoạt động một cách trơn tru như cỗ máy vừa lắp ráp, nhặt chỗ này con ốc, chỗ
kia cây láp, chỗ nọ cái bugi, pít tông… nối lại, châm dầu, giựt máy cho xịt
khói và chạy…
Buổi ra quân đầu tiên, cờ xí đỏ trời. Trống thúc liên tu bất
tận, inh ỏi từ làng trên xuống tận xóm dưới. Tổ cày thì tay cầm roi xua đàn bò
tiến tới, vai vác những chiếc cày nặng trịch trên vai, hàng lối ngay ngắn, thẳng
tiến ra cánh đồng cày mẫu. Tổ thủy nông, cuốc trên vai cũng hàng lối thẳng tắp
tiến về phía các con mương tiêu. Tổ cụ lão ngồi quanh sân đình sửa lại bồ cào,
tra cán cho những chiếc trang đất, đóng lại răng bừa… Khí thế hừng hực, sôi nổi
bởi tổ nào cũng kèm theo anh hay chị cán bộ thông tin hết đọc các văn bản hợp
tác hóa lại quay ra ca hát các bài quân hành qua ống loa cuốn lại bằng tôn. Hết
hát lại sang đọc. Đọc như cuồng.
Sau ngày ra quân rầm rộ, tiếp đến là chuẩn bị xuống đồng. Lệnh
truyền xuống: là các hộ chăn dắt trâu bò tập thể phải cho ăn uống đầy đủ để
hoàn thành tiến độ cày bừa vượt mức kế hoạch, gieo sạ kịp thời vụ. Các tổ đều
phải ra sức thi đua lập công. Nơi nào cũng một không khí rộn ràng.
Nhưng đúng một tuần trước khi xuống đồng, ban Chủ nhiệm hợp
tác nhận hết hung tin này tới hung tin khác: Bò cày tự dưng chướng bụng lên ngã
lăn quay. Hiện tượng gãy chân phổ biến hơn. Hơn hai trăm đôi trâu bò cày có đến
một phần ba lâm vào tình trạng xấu. Ban chủ nhiệm và lãnh đạo xã họp ngày họp
đêm, trong khi các hộ chăn dắt lo thanh toán những con bò què, sình bụng vì hết
phương cứu chữa.
Trong khi cán bộ họp bàn phương án đối phó, cả làng gác lại
chuyện cày bừa hợp tác, hào hứng tham gia mổ xẻ, chia thịt. Khói bếp vươn cao,
mùi thịt nướng, thịt xào… thơm lựng bay theo. Những chai rượu đế giấu chui nơi
hóc kẹt nào đó giờ công khai đứng sắp hàng quanh chiếu. Cả làng ăn uống vui say
cả đêm lẫn ngày, cứ như ngày tết! Có rượu tất có hát hò. Đờn cò, đờn dây lôi ra
đệm theo những câu hô bài chòi nhão giọng vì đầy men. Có anh cao hứng xắn tay
áo diễn tuồng cổ, ca cải lương. Bảy Lợm vốn người ba lơn, ham vui, liệng ống
loa ngoài góc rào xán lại đám đờn ca: “Để Bảy này diễn lại đoạn tuồng Mạnh Lệ
Quân cho mấy người nghe”. Bảy Lợm xăng tay áo, guộn lưng quần, xuống tấn, ra điệu
bộ lúc thua trận, cất giọng ồ ồ: “Ôi đại bại nhất thời đại bại. Ta bại lần
này… ợ…ờ…ờ.. bày tiếp trận sau…ơ…ơ…”. Tiếng vỗ tay rào rào nổi lên, chỉ còn
thiếu những chiếc thẻ ném ra và tiếng trống chầu nữa thì đã thành gánh hát bộ
rong!
Tội nghiệp Bảy Lợm, học hành lèm nhèm vài ba chữ đủ đọc lá
thư chứ đâu biết mình mắc tội. Mà tội gì mới được chứ? Rõ ràng câu ca tối hôm
qua ông hát lên có sẵn trong tuồng tích chớ nào do ông tự bày ra. Vậy mà chú
công an xã gầm ghè: “Nhất thời đại bại. Ai đại bại? Mà sao lại nhất thời? Kẻ
nào bày cho ông đi tuyên truyền, phá hoại công cuộc xây dựng hợp tác xã nông
nghiệp?”. Bảy Lợm cãi lại: “Ai bày biểu. Chú về hỏi lại ông già chú đó. Mấy năm
trước ổng theo tui lên Quảng Hoà coi đám hát hiến. Kép nó hát rõ ràng vậy mà.
Cha chú cũng thuộc nằm lòng, không tin chú về hỏi ổng coi. Tôi có đặt ra đâu?”.
“Không ai bày biểu thì ông cứ ngồi nhớ lại rồi viết kiểm điểm”.
Bảy Lợm gác ống loa lên bàn, lòng căm hận muốn nhổ toẹt
bãi nước miếng vào mặt thằng nhóc chỉ đáng tuổi con cháu. “Đồ dóc phách”, Bảy Lợm
gầm lên trong cổ, nhưng cũng ngồi vào bàn, cặm cụi đúng một buổi sáng, nắn nót
được nửa trang giấy mà không hiểu mình viết gì. Người nhận tờ kiểm điểm của ông
hết xoay ngang lại xoay dọc, không tài nào đọc ra con chữ, chỉ vì chữ ông viết
giống như giun dế bò, y như chữ Lào, chữ Miên. Chịu thua, thả ông về.
*
Ban chủ nhiệm cho ghép lại các đôi bò để điền vào những con
đã chết hoặc bị giết thịt. Chúng vẫn thản nhiên đi ra đồng như mọi khi, nhưng
khi mắc hai con vào quải (ách) thì con này húc con kia, quay đầu lại chọi nhau,
khiến ba cây cày bị gãy chui, một xã viên cày bị thương. Đội cày lại báo cáo.
Chủ nhiệm hộc tốc chân cao chân thấp chạy ra đồng, ra lệnh cửa hàng thương nghiệp
cung cấp dây thừng, buộc chặt sừng mỗi con một bên vào tay quải, không cho động
cựa. Giải pháp này xem ra hữu hiệu khi mới ấn lưỡi cày, cày chừng trăm mét.
Nhưng lúc tới bờ, anh đội cày nghiêng người nhắc thá thì cả hai cứ ngẩng đầu
hiên ngang thẳng tiến, bước đều đều lên phía trước, khiến lưỡi cày cắm chặt vào
bờ đất, làm bắp cày rời khỏi mỏ. Đôi bò mang bắp cày thủng thỉnh bước tới như
kéo một thanh gỗ nhỏ về làng, ông xã viên thì nắm phần chuôi cày vừa tách rời,
đứng giữa ruộng la ơi ới, rồi cắm cổ chạy về không thèm đợi kẻng xổ báo hết giờ
lao động.
Sinh hoạt của làng lúc này là tiếng kẻng. Đều đặn ngày bốn bận
kẻng gióng lên báo hiệu giờ lao động hoặc nghỉ. Một ngày nông dân làm 8 tiếng,
đúng theo luật quốc tế. Như vậy cũng đã tiến bộ một bước đáng kể. Nhưng cái cảnh
kẻng báo giờ nghỉ trưa hay hết ngày nom như những hình nhân trong đoàn kịch
câm: Người đang vung cuốc, nghe kẻng báo hết giờ cứ để nguyên tư thế đó rồi thu
cuốc lên vai; người đang gánh đôi thùng tưới lãnh thuốc nam, nước chỉ mới tưới
phân nửa thùng, nghe kẻng thì đổ nhào phần còn lại ra đất, đủng đỉnh quảy đôi
thùng rỗng trên vai bước lên bờ. Cảnh tượng buồn cười ấy cứ lặp đi lặp lại mãi
không tài nào chữa khỏi, như mắc chứng nan y.
*
Cô Mai do công tác phong trào kém, nên trên điều
sang công việc khác. Công việc cô sắp đảm trách rất phù hợp với cô. Chẳng là cô
đã từng mở cái mỹ viện gì đó trên tỉnh, chuyên cắt, uốn, ép, sấy, nhuộm… nên cô
về làm cửa hàng trưởng Cửa hàng Hớt Tóc Nhân Dân là hợp lý. Rất
hợp lý. Trên rất sáng suốt, ai ai cũng tán đồng.
Mai quản lý 8 ông thợ hớt tóc; già xấp xỉ 60, trẻ nhất cũng
23, vốn là chủ các tiệm hớt tóc trong làng. Các tư liệu sản xuất của họ như
tông đơ, kéo, gương, lược, dao cạo, bàn ghế, thậm chí tấm vải choàng cũ mèm,
hôi mốc đều tập trung vào Cửa Hàng Hớt Tóc Nhân Dân, đặt trong ngôi miếu thờ
thành hoàng được nới rộng ra. Họ đến cửa hàng theo tiếng kẻng. Ra về cũng phải
chờ kẻng. Lúc không có khách cũng phải ngồi tại cửa hàng không ai được phép bỏ
đi. Mai phân chia đều khách đến cắt tóc cho mỗi thợ, rồi chấm công điểm, ghi
vào quyển sổ, cuối tháng báo cáo lên ban chủ nhiệm. Ngồi trong mát, nhàn nhã
nhưng ngày kiếm nửa cân thóc. Sướng chán. Chẳng bù với mấy anh thợ cày cắm mặt
dưới nắng mưa suốt ngày này qua ngày nọ.
Rồi cũng giống như cảnh của các tổ đội khác, hễ nghe tiếng kẻng
báo hết giờ lao động, tất cả các đồ nghề đều ném lên mặt bàn, mặc cho khách chỉ
vừa mới cắt một bên mái, hay vừa cắt xong nhưng chưa kịp cạo mặt, ngoáy tai…
Khách hàng la oai oái. Nhưng mặc. Đã hết giờ lao động. Luật nói vậy. Nội qui đã
đề ra. Lắm khách từ cửa hàng ra về với một bên nửa đầu trắng ởn, nửa kia rậm rịt
đen như nùi giẻ lau xe. Khách kêu trời, than oán cách làm ăn của Mai và đám
công nhân bất nhân. Họ đòi đập nát cái cửa hàng hớt tóc nhân dân kia. Họ chửi tạt
vào mặt Mai và mấy người thợ là lũ ăn hại, bọn tay sai do địch cài lại, phá hoại…
Tiếng kêu thấu tai trên, lập tức Ba Xanh vi hành
tận nơi quan sát, nắm tình hình. Đây cũng là dịp tốt để Ba Xanh gần gũi cô Mai.
Từ ngày vợ ông hy sinh, Ba Xanh luôn tơ tưởng có ngày được ôm ấp tấm thân ngà
ngọc của Mai trong vòng tay. Nhưng khốn thay mơ ước cháy bỏng kia chưa chịu đến,
khiến ông buồn nẫu ruột.
Lần này ông đến cửa hàng với tâm trạng buồn vui lẫn lộn,
nhưng cũng cố đè xuống tận đáy, để có thể nắm bắt tình hình, kịp thời uốn nắn.
Ba Xanh lựa đúng vào thời khắc chỉ còn nửa tiếng là hết giờ
lao động để vào cắt tóc, cốt xem rõ cách thức làm ăn của họ thể nào.
Mai không ngẩng lên, cũng không chào khách. Cô cặm cụi biên
tờ phiếu rồi đưa cho ông già Phi Sơn đã có hơn 40 năm tuổi nghề. Ba Xanh nhăn mặt
khi nhìn thấy ông già ốm nhách, mặt xanh mét không còn thần sắc lừ đừ đứng dậy.
Nghi mắc bệnh lao kinh niên, Ba Xanh nghiêng đầu hỏi Mai: “Sao đồng chí không
phân công các đồng chí trẻ lại để ông cụ già tội nghiệp này hớt?”. Mai đáp tỉnh
rụi: “Báo cáo lãnh đạo, ai cũng được phân chia đều công việc. Không ai nhiều,
không ai ít, vì nếu làm vậy là bất công, là bóc lột sức lao động…”. Ba Xanh phẩy
tay, ép mình ngồi xuống chiếc ghế ọp ẹp. Ông Phi Sơn hấp háy cặp mắt lèm kèm, cầm
tông đơ, chậm rãi đưa lên đưa xuống nửa bên trái mái tóc bắt đầu có sợi bạc của
ông Xanh. Thỉnh thoảng răng tông đơ kẹp dính sợi tóc lúc thao tác, khiến Ba
Xanh đau điếng. Một lần ông còn chịu được. Đến ba bốn bận như vậy, ông nổi cáu:
“Hớt cái con mẹ gì như nắm tóc người ta giựt, như lột da đầu ra vậy? Đau thấy
con mụ nội!” Ông già xuýt xoa xin lỗi vì tông đơ chưa đến kỳ tu sửa, tổ mài dũa
chưa chịu nhận. “Khỏi, hớt nhanh lên”.
Ba Xanh vừa liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo trên tay vừa giục.
Kim đồng hồ nhích dần, nhích dần. Nửa bên trái được cắt xong, cắt vội vã, còn
những đường tóc đen nổi đậm, nhưng nhìn sơ, không đến nỗi tệ. Chỉ còn nửa bên
phải. Mai nháy mắt với anh thợ trẻ. Điều này có nghĩa là phải tranh thủ, ưu
tiên cho cán bộ. Anh thợ trẻ hiểu vậy và nhanh nhẹn cầm tông đơ phụ với ông già
phần tóc bên phải. Hai chiếc tông đơ đua nhau lóc chóc, lóc chóc trên mái tóc
Ba Xanh như hai con ngựa gõ móng xuống mặt đường phi nước kiệu. Ba Xanh tỏ vẻ
ngạc nhiên về cách cắt tóc này. Trên đời này đâu có kiểu hai thợ xúm nhau trên
một đầu tóc khách hàng? Nó chưa từng xảy ra với ông, với cả làng này? Hay Mai
đúng là “nghệ sĩ hớt tóc” như lời quần chúng đồn đãi? Ba Xanh nghĩ thầm và ngồi
yên chịu đựng những nhát bứt tóc từ chiếc tông đơ của ông già Phi Sơn. Ngựa chạy,
hết đường chạy thì dừng lại. Hai chiếc tông đơ cũng dừng lại khi mảng tóc cuối
cùng rớt xuống tấm vải choàng quanh người, để lộ chỗ đậm chỗ lợt trên mái tóc
phía phải Ba Xanh.
Kẻng xổ tràng dài. Ba Xanh nghiêng qua nghiêng lại đầu tóc
trước chiếc gương lớn, đã tróc thủy vài chỗ. Ông ngạc nhiên khi thấy cả hai người
thợ không chịu tiếp tục công việc còn lại trên đầu tóc mình, quay lui nói: “Nghỉ
sao?”. Ông Phi Sơn nhỏ nhẹ: “Dạ thưa, đã hết giờ lao động, xin mời đồng chí
sáng mai tới sớm, tui sẽ cắt nốt phần còn lại”. Ba Xanh giận dữ giật mạnh tấm vải
choàng quanh người làm tóc văng tung tóe, văng tục: “Mẹ cứt, làm ăn gì lạ vậy?
Phải cho xong đầu tóc người ta chứ?”. “Dạ – giọng Phi Sơn khúm núm, nhưng dứt
khoát, rành rọt – xin mời ông xem bảng nội qui treo trên vách kia”. Ba Xanh
không cần dòm cũng biết bảng nội qui đề ra cho các tổ đội sản xuất, cửa hàng…
là do chính tay ông thảo. Vậy mà khi từ trên xanh về, ông dò la tin tức cô Mai,
người làng nói “cổ là nghệ sĩ hớt tóc trứ danh trên tỉnh đến nỗi các quan bà,
me Mẽo cũng chết mê chết mệt dưới bàn tay tài hoa của cổ”. “Kít. Nghệ sĩ với
tài hoa củ kít” ông buột miệng gầm lên trong cổ họng. Âm thanh bị nén lại nghe
như tiếng rít của con rắn vồ trật con mồi. Không ai hiểu ông nói gì, rồi xẵng
giọng trong lúc mọi người trong tư thế bồn chồn, chuẩn bị ra về: “Có ai dư cái
mũ nào không?”. Mai hỏi lại: “Thưa, để chi ạ?”. Ba Xanh trổ quạu: “Chụp cái đầu
lại chớ còn chi nữa, còn đứng đấy hỏi. Cô coi, vác cái đầu tóc này mà đi được
à?”.
Mọi người nhìn nhau, chẳng ai đội mũ. Mai nhanh nhẹn lấy chiếc
nón lá treo trên móc đưa bằng hai tay: “Đội tạm cái này ạ”.
Tự dưng khuôn mặt Ba Xanh dãn ra, dịu dần lại khi chạm vào
chiếc nón có mùi người đàn bà trong tay. Vạt nắng nhảy nhót trước miếu thành
hoàng bỗng sáng choang, hắt lên màu nắng quái, khiến Ba Xanh quay tít, ngất
ngây đến tê dại.
