Ngày hôm qua tôi dọn tủ quần áo cũ, mang ra phơi dưới nắng gió tháng Tư. Tháng Tư ở thành phố Đông Bắc Seattle năm nay rất đẹp, nắng ấm áp, màu nắng chảy trên những ngọn cây hoa đào, đẹp như có ai rót mật ong lên những chùm hoa. Mang những chiếc áo mùa đông để trong tủ lâu ngày ra phơi vào thời tiết này là đúng nhất. Những chiếc áo này thật ra là những chiếc áo không mặc tới mà vẫn muốn giữ; ao dài nội hóa của tôi mang theo khi di tản từ 1975, cái áo gilet mầu xám tro của Bố, Bố qua đời từ năm 1985 vẫn giữ, áo cánh lụa của Mẹ may tay, thỉnh thoảng nhớ Mẹ tôi vẫn mang ra mặc, vài cái áo của 3 đứa con hồi còn nhỏ bà ngoại may tay cho chúng….Con gấu nhồi bông, mấy cái chăn em bé có hình con thỏ, con mèo…, bộ áo đồng phục của trẻ từ hồi chúng học mẫu giáo, tiểu học (nay chúng đã có gia đình).
Mở cái tủ quần áo cũ ra là mở cuốn sách ký ức…trang nào cũng
đầy ắp kỳ niêm. Nhất là áo khăn của Bố Mẹ đã qua đời để lại.
51 năm rồi. Một thời gian nửa thế kỷ có thể là nguyên
một đời người của ai đó.Tôi nhìn những chiếc áo, chiếc khăn, nhớ lại cái ngày
cuối tháng Tư năm đó ngổi co ro với cha mẹ già trong lòng chiếc máy bay quân sự
Hoa Kỳ. nhớ lại như nhớ một ký ức xa lắc xa lơ mà vẫn rõ như thước phim quay chậm.
Nhớ lại những ngày tháng vừa đi vừa quay đầu nhìn lại, vừa khóc tức tưởi của
bao nhiêu người dân miền Nam Việt Nam.
Năm mươi năm, những con số thống kê tử trận của quân lính
Nam, Bắc hai miền, nhớ lại những con số tử vong của tù cải tạo, của thuyền
nhân….Những cái chết oan khiên, tức tưởi….Những cái chết của người Việt…được gọi
bằng những anh hùng hay những tội đồ tùy theo
góc đứng, góc nhìn.
Có những người bạn luống tuổi gặp nhau, bảo nhau hãy quên
đi, đừng nhớ nữa….Con cháu chúng nó mai này, nếu muốn thì vào thư viện tìm đọc.
Chúng đọc được lịch sử của Việt Nam như thế nào…? Cái lịch sử của bên “thắng”
hay bên “thua” viết.
Tháng Tư của năm 2026, tôi (vẫn) nhận được, mới tuần trước,
một lá thư của một thương phế binh – của quân đội VNCH – gửi từ thôn Hòa An, xã
Phú Lộc, thành phố Huế.
Tôi nhớ lần cuối cùng tôi về Huế, liên lạc được một số
thương phế binh của VNCH cũng trên 20 năm rồi, bằng cách nào đó họ vẫn chuyền
tay nhau địa chỉ của tôi, may mà tôi không đổi địa chỉ…
Mỗi lần nhìn thấy những tấm hình của một người đàn ông luống
tuổi, quần áo xác xơ, cụt tay, hay cụt chân, ngồi trên một cái ghế đẩu, cầm cái
chứng chỉ quân ngũ của VNCH mấy chục năm về trước bằng bàn tay còn lại, lòng
tôi cứ rơi ra từng mảnh. Rơi thì rơi, cũng chẳng làm sao mà làm cho những bức
hình đó hồi sinh được, chân tay ở đâu mà lắp vào… Bây giờ tôi chỉ biết chuyển
lá thư này đến những hội Bảo trợ thương phế binh của VNCH.
Tháng Tư sau 51 năm, thời gian đó vẫn không làm cho một người
miền Nam thời VNCH quên được quá khứ của mình nhưng cũng vì không quên được,
nên đôi khi không còn muốn ngồi đây mà kể chuyện…ngày xưa. Lòng đôi khi, như có
viên đá, ai cầm ném xuống dòng sông, rơi một tiếng “tõm” nhẹ hẫng rồi chìm lỉm
không cả bóng không cả tăm. Nhưng lạ lắm, tiếng rơi lạnh lùng đó vẫn để lại tiếng
“gọi đò” trong trái tim người bạt xứ.
Tiếng sóng trong tim cứ gọi, con đò đã nát, tan tác từng mảnh
ván mục, không còn mảnh nào sót lại…viên đá đã chìm lỉm đáy sông sâu.
Thôi đừng gọi nữa, chẳng còn con đò nào trên dòng sông quá
khứ đó.
Tháng Tư, chao ơi là nhớ!
