Tròn một năm sau tai nạn chết người lúc xây tháp chuông giáo đường, một hồi chuông khác thường giữa đêm gióng thức dân làng Cái Bàu. Tiếng chuông lạc nhịp, lúc vang dội thống thiết lúc rã rượi thê lương. Cả làng kéo tới tụ quanh tháp chuông, xem xét sự tình. Kẻ thắp đuốc, người soi đèn dầu, nhốn nháo một biển lửa nhấp nháy khoảnh đất đêm. Họ đưa mắt ngái ngủ ngó lên. Cha Bốn và Thầy Thông, như hai nhạc trưởng bất đắc dĩ, đang loay hoay tìm cách chặn đứng chuỗi thanh âm dị thường, không biết do động lực ma quái nào xui khiến, cứ gióng giả lê thê. Chỉ hoài công. Phải đợi tới lúc có ông thầy pháp, được Cha Bốn miễn cưỡng chấp nhận, thắp ba nén nhang quấn quanh trán, vừa đi vừa tụng bùa giáp vòng gác chuông bảy lần, quả chuông đồng nặng nề mới dừng lại. Dân làng linh cảm điềm bất an, xầm xì bàn tán một đỗi rồi rủ nhau ra về, chẳng thiết vỗ tay khen thưởng.
Hai năm sau, khi một ngôi thánh đường khiêm tốn với nhà tu
và gian bếp được xây xong, Cha Bốn khởi sự học tiếng An-nam, trước tiên với lũ
trẻ háo kỳ, sau đó với các vị trưởng lão. Tính hiếu học và khả năng hấp thụ của
ông khiến ai cũng ngạc nhiên. Chỉ sau một thời gian ngắn, ông đã có thể bàn luận
với Thầy Thông bằng tiếng An-nam về những đề tài cầu kỳ, với thuật ngữ và dấu
giọng gần như hoàn hảo. Ông còn nảy ý sáng tạo ra một kiểu chữ viết mới, dựa
theo mẫu tự La-tinh, nhằm thay thế chữ Nôm có nguồn gốc Hán tự vừa khó học vừa
khó nhớ.
Để rồi, vào một khuya mất ngủ đầu mùa khô oi bức, ông tới ngồi
bên bàn viết kê cạnh khung cửa sổ lá chằm. Hương một loài hoa nhiệt đới ngoài
đêm lùa vào dịu dàng. Trong trũng sáng giá đèn cầy ba ngọn, Cha Bốn trang trọng
đặt viết ghi xuống dòng chữ đầu tiên chuyển dịch bộ kinh thánh chép bằng tiếng
La-tinh: “Khởi thỉ, Thiên Chúa sáng tạo trời và đất…”
Chuỗi ký ức từ đáy tiềm thức ông dâng trào. Vịnh biển ấu thời
chan hoà ý thức nồng hương muối. Mẩu đối thoại váng vất mùi cá biển của cha và
chú trong chuyến ra khơi đầu tiên. Khát vọng phiêu lưu về những vùng đất xa lạ
đâm chồi trong tâm tưởng. Và nghi vấn dằn vặt về nguồn cội của nhân loại.
Nhưng, sẽ có những ai tại dải đất khốn khó xứ đông nam á nầy,
với hơn bảy mươi phần trăm người mù chữ, đọc được bản kinh thánh tuyệt vời của
đấng chúa trời, Cha Bốn tự hỏi. Dẫu những nghi hoặc, ông cố đạo vẫn nhẫn nại tiếp
tục công việc dịch thuật quyển thánh kinh. Chữ nối chữ. Hàng tiếp hàng. Với
lòng kiên trì lạ thường và đức tin tuyệt đối vào đấng tối cao làm hậu thuẫn.
Song hành cùng tham vọng thuộc địa hoá toàn cõi Đông dương của đế quốc
Pháp.
Một sáng tinh sương, sau ngày hoàng đế An-nam bị ép buộc ký
hiệp ước trao toàn cõi Nam kỳ cho người Pháp, trong giấc ngủ mơ màng Cha Bốn bắt
được tiếng chuông vang động lẫn cùng tiếng thú rên xiết và thanh âm kim loại va
chạm. Ông tỉnh giấc, khoác vội áo choàng, châm đèn, bước ra. Cha Bốn không tin ở
mắt mình. Trong vòm sáng đầu mùa khô đỏ choé, trong vắt, ông nhác thấy quả
chuông đồng treo đong đưa một xác thú sẩm đen. Người giáo sĩ cuống cuồng leo
lên gác chuông. Một con chó. Đuôi của nó bị ai cột vào dùi chuông. Hai vành tai
bị cắt mất. Bằng sinh lực cuối, nó đang giẫy giụa tìm cách giải thoát. Mỗi lúc
va đầu vào thành chuông, con thú rống rú đau đớn. Vọng âm báo tử càng lúc càng
yếu. Khi Thầy Thông hợp lực cùng Cha Bốn cởi được dây trói, ánh ban mai đã chan
hoà. Máu đóng váng thành vũng trên sàn gỗ. Vết thương của con thú được bó băng
khử trùng bằng i-ốt. Máu được rửa sạch. Nhưng từ đó, tiếng kêu thống thiết của
con thú thỉnh thoảng vọng về theo cơn mộng dữ, đọng ám giấc ngủ Cha Bốn. Ông
chiêm bao thấy lũ đàn ông bịt mặt, trần truồng, xẻo tai và treo ngược ông vào
dùi chuông, rồi hùa nhau xô đẩy từng chặp. Mỗi lần chuông gióng là một tiếng rú
nhục hình. Máu, dãi nhớt, mồ hôi, trộn phân và nước tiểu trây trúa thân thể ông
trần truồng. Ông nghe ra tiếng mình hét rống hoá thành tiếng chó tru. Nhưng lạ
thay, trong tột đỉnh đớn đau ông cảm nhận một nỗi dục lạc kỳ lạ, thấy mình loé
sáng trong lăng kính cầu vồng. Ông dật lạc bắn tinh thành cơn mưa hoan dâm, cấy
vào bụng đất phì nhiêu những hạt mầm phúc âm. Những giấc mộng dữ in dấu rành
rành trên tấm vải giường, đè nặng tâm thức ông, bắt ông ghi xuống lần đầu tiên
trong đời những trang nhật ký.
Những lúc ấy ông không ngớt hồi tưởng thời thơ ấu ở quê nhà.
Ông là con một, sinh trưởng trong một gia đình hành nghề đánh cá tại vịnh Lyon ở
miền nam nước Pháp, cách Marseille một eo biển ngắn. Mẹ ông kể lại, bà sinh
khó. Xương chậu của bà hẹp, phải mổ. Thời đó, ngành sản khoa còn phôi thai, dụng
cụ y học thô sơ, phẫu thuật là chuyện rủi may, trời định. Cha ông, Monsieur
Antoine Debeauvais, hành nghề ngư phủ, hầu như mỗi ngày đều ra khơi với người
chú của ông bằng con tàu nhỏ gắn động cơ. Lưới được mẻ nào, hai người lái thẳng
tới Marsseille, giao cho bạn hàng.
Vào mùa nghỉ hè năm ông bảy tuổi, trước khi chuông giáo đường
gióng lễ năm giờ sáng, ông được phép theo cha ra biển. Bầy hải âu liệng vòng
bám theo trên không, buông tiếng oang oác. Sáng ấy, lần đầu trong đời ông hiểu
ra ý nghĩa của lạc thú phiêu du tiềm ẩn trong ảnh sắc thiên nhiên tráng lệ. Trời
và biển biến tấu vào nhau thành bản giao hưởng của thời khắc. Cảnh nhá nhem tỏ
dần trong cơn xuất huyết đầu ngày, từ đỏ choé đổi vàng rực. Để rồi, như một con
kỳ nhông đổi sắc, mái trời chuyển xanh tía, pha sắc vàng nõn đầu trưa, chiếu rọi
gương biển lấp lánh thiên thanh. Sương khói đại dương xoá mờ ranh giới địa lý
trời và biển. Đất đai tuồng như liền lạc nhau. Khát vọng viễn du của cậu bé
Debeauvais dần dà tượng hình, mang diện mạo, có thêm khẩu vị, mùi hương và cảm
xúc. Đối với cậu bé Paul, những trải nghiệm đầu tiên ấy đều dính líu ít nhiều tới
vị muối, khiến cậu về sau không nguôi nhớ về đại dương cùng những giao động của
ngũ quan, sâu sắc như một cuộc hoá thân.
Trong khi làm việc, hầu như lúc nào ông Debeauvais cũng ở trần,
phơi phiến ngực nạm lông vàng hoe. Gáy lưng ông vạm vỡ bò mộng, cũng đầy lông
xoắn. Bắp tay phải ông xâm hình một con cá ngựa màu dâu dại tím bầm. Mỗi lần
ông chuyển động cơ bắp, con cá ngựa bắt đầu cựa quậy như tìm cách thoát thân,
bơi ra đại dương.
“Sau này qua đời, ba nhớ để lại cho con con cá ngựa nghe?”,
đã có lần Paul buột miệng hỏi, khiến ông Debeauvais không khỏi bối rối.
“Lẽ đương nhiên, mon fils, con sẽ nhận được miếng
da có hình xâm con cá ngựa sau khi ba chết”, ông cười xoà, rồi giơ bàn tay chai
sần xoa đầu Paul.
Có điều, Paul không mấy thích mùi mồ hôi của ông, nó hăng hắc
mùi chua của rượu táo, dầu cá và hành sống. Paul nghĩ mình biết lý do tại sao,
chỉ vì cha cậu rất hảo ăn món Sarde in Saor, cá mòi ngâm giấm, một đặc sản miền
Venezia, ông thường ăn kèm nửa tá củ hành.
Trong chuyến chở hàng tới hải cảng Marseille, ông Antoine
Debeauvais và chú thường tán gẫu những chuyện mà Paul chẳng hiểu gì cả.
“Chú mày phải thử một phát với con nhỏ Jasmin!”, ông nói, đồng
thời ra dấu tay lộ liễu.
“Anh không thấy nó có vẻ gì bí hiểm sao?”
“Chẳng có gì bí hiểm hết. Thứ đàn bà Á châu chúng nó là như
vậy. Chú mày không thể tưởng tượng nổi thịt da của nó mềm mại như thế nào đâu.
Không, không phải nhão nhoẹt như khoai nghiền, mà êm mát như một con búp bê làm
bằng lụa Trung hoa, hiểu không?”
“Anh biết làm thơ từ khi nào vậy?”, chú cười lớn, rồi rít
sâu một hơi thuốc vố. “Em chuộng con bé lai da đen Alisa hơn.”
“Tao thấy con nhỏ tanh rình mùi cá.”
“Anh em mình cũng vậy.” Rồi chú nói thêm, yết hầu trồi sụt
nhấp nhỏm: “Cái lũ điếm tinh quái đó rặt một bầy cá tẩm dầu trầm hương mê hoặc.
Mà anh em mình tính sao với thằng Paul đây?”
“Hứng không, tao với mày chơi trò bánh mì kẹp thịt với con
Jasmin?”, vừa nói ông Debeauvais vừa ra hiệu bằng cách đập hai lòng tay vào
nhau, rồi ông xoay qua Paul, tủm tỉm. “Còn con, con hứng chơi trò gì? Một phần
bánh kem sô-cô-la được không?”
Hai người đàn ông bật cười khoái trá. Đoạn, ông Debeauvais
xướng giọng tuồng một bản thánh ca đổi lời tục tĩu, được cậu em phấn khởi hoà
giọng.
Khi tàu gần đến bến cảng, ông Debeauvais trỏ tay chỉ Paul
xem thánh thất Notre Dame de la Garde, biểu tượng tốt lành của người dân
Marseille, xây trên đỉnh đồi tít xa xa. Paul xoe mắt chiêm ngưỡng. Không dưng cậu
cảm thấy ngực trái nhói đau, như có ai dùng vật cùn thốc vào. Lạ thay, cái đau
gần như dịu dàng, bắt cậu thẫn thờ liên tưởng tấm ảnh vẽ thánh Sebastian bị
trúng tên cắm xuyên ngực in trong tự điển bách khoa Larousse.
Khát vọng viễn du của cậu càng đậm nét, khi tàu đánh cá cột
neo bến cảng Marseille, là nơi các thương thuyền từ khắp nơi đổ về. Lái buôn da
trắng, Á, Phi, Ả rập và nhiều giống dân tạp chủng gặp gỡ nhau tại đây để trao đổi
và mua bán hàng hoá. Tơ lụa và đồ men từ Trung hoa. Cà phê và hạt ca-cao từ
châu Mỹ la-tinh. Hương liệu từ Trung đông. Đồ rèn từ bắc Phi. Cao su từ
Công-gô. Gia vị và trà từ Ấn độ. Trái cây khô từ Thổ nhĩ kỳ. Và cá, cá, vô số
cá cũng như nhiều loại hải sản khác. Trên không, từng bầy hải âu đói rình rập
săn mồi, nhào lượn không mỏi. Một loại tạp hương lạ lẫm, trộn lẫn hài hoà, ngập
ngụa không gian. Người mua kẻ bán chuyện vãn, trả giá, rao bán, la lối và cãi
vã nhau bằng một thứ ngôn ngữ chợ búa.
Sau khi bán xong mẻ cá, cha và chú dẫn Paul tới một tiệm
bánh nằm trong một ngõ hẹp lát đá. Bên trong thấy treo nhiều khung hình chụp
các giống dân thuộc địa, có vài tấm chân dung phụ nữ phô bày ngực trần, phì
phèo ống điếu. Ông Debeauvais dúi vào tay bà chủ tiệm mập phì một mớ tiền, xoay
qua dặn dò Paul, ngồi ở đây chờ, muốn ăn bao nhiêu bánh tuỳ thích. Nói xong,
hai người đàn ông lủi mất, như hai con thú hoang xổng chuồng.
Sau khi ngấu nghiến một lố bánh kem Petits Fours và
uống xong hai ly sữa, Paul bắt đầu thấy chán. Để tránh ngủ gục, một thói xấu mà
mẹ cậu, một con chiên ngoan đạo triệt để cấm đoán, cậu xin phép bà chủ tiệm, ra
ngoài dạo chơi.
“Nhớ đừng đi xa quá nhé bé con, petit homme, và
để ý coi chừng! Đây là Marseille, không giống như xứ quê mùa của cậu đâu nhé!”,
bà ta căn dặn.
Marseille một xế trưa, sau khi bôi xoá lớp hoá trang tuồng
hát bán buôn khi nãy, lạnh nhạt chào đón cậu bé Debeauvais. Những căn phố nhiều
tầng, lợp ngói đỏ, những khung cửa sổ tô xanh da trời khép hờ, lớp sơn loang lổ,
hoen tróc, những ban công trồi thụt, móc dây phơi quần áo, đối diện nhau gần đến
nỗi, có thể giơ tay chạm nhau. Paul lần theo mùi tạp nhạp ban nãy, tìm ra quảng
trường nhóm chợ, trước một thánh đường xây theo kiến trúc la mã cổ Byzantine. Hải
âu và bồ câu tranh nhau chí choé đầu tôm đuôi cá vương vãi. Trong cái nóng trưa
nắng, các lái buôn đang dọn hàng. Vài người phu quét đường lặng lẽ làm việc.
Paul ngước nhìn ngôi giáo đường, thấy hai đỉnh ngọn tháp dường như chuyển động
ngược hướng mây trôi. Cậu tưởng mình có thể nhận ra những nhân dạng và những diện
mạo lệch lạc phô diễn nỗi đớn đau dị thường. Một nỗi thôi thúc kỳ bí thúc đẩy cậu
leo lên bậc cấp, bước vào chính toà, bị choáng ngợp bởi bầu không khí trầm mặc,
gần như uể oải. Chỉ thấy lác đác dăm ba người. Paul ngẩng mặt ngắm vòm mái cong
lắp kính màu sặc sỡ. Luồng nắng dọi tia lạ thường, rực rỡ hấp lực, bắt cậu bước
lại, ấn người cậu quì xuống. Đường nét kính hoạ tạp sắc thôi miên, dầm mình cậu
trong bát thánh chan hoà ánh sáng phúc âm, thuật lại ngắn gọn toàn bộ thánh
kinh. Những mẩu chuyện, mà mẹ vẫn đọc cho cậu nghe mỗi đêm một tiểu đoạn trước
khi ngủ. Tâm thức cậu loé sáng một khối như chạm phải sấm sét.
Khi rời thánh đường, Paul cảm thấy như mình vừa tái sinh và
cậu chợt hiểu ra, sẽ phải làm gì sau này. Phải, cậu sẽ học thành linh mục và trở
thành một người truyền giáo, nhằm cứu vớt đám người khốn khổ tại những xứ thuộc
địa.
Ðêm đó, sau thời kinh tối, cậu thuật lại tự sự cho bà
Debeauvais và ngoan ngoãn lắng nghe bà kể chuyện về đoạn đường khổ hạnh mà
thánh Sebastian đã trải qua, khiến cậu thiếu điều bật khóc. Liên tiếp những đêm
sau đó, bà lặp đi lặp lại, mẹ sẽ dạy dỗ và khuyến khích con tu học thành đức hồng
y, hoặc ít ra cũng là tổng giám mục địa phận Aix-en-Provence. Thay vì phản đối
và thố lộ cho mẹ biết ước vọng trở thành linh mục, sẽ lìa nước Pháp, sang một xứ
thuộc địa, trước tiên với mục đích hoàn thành sứ mạng truyền giáo, sau đó nhằm
thoả mãn khát vọng phiêu lưu, Paul chỉ bật hỏi một câu vô vị:
“Nhưng mà, maman, rồi ai sẽ săn sóc cho ba mẹ
sau này?”
“Ba mẹ sẽ có cách giải quyết”, mẹ cất giọng hờ hững.
“Hay là mẹ sinh tặng cho con một đứa em trai?”, Paul nghĩ,
đó là cách giải quyết tốt đẹp nhất.
“Không được đâu con”, mẹ trả lời, rồi cúi xuống hôn lên trán
Paul, chúc cậu ngủ ngon và lặng lẽ bước ra. Đêm ấy mẹ không đọc cho cậu nghe đoạn
kinh thánh nào cả.
Ngô Nguyên Dũng
