Chặng thứ nhất
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
“Anh đã
check lại phòng khách sạn chưa? Và trả lời cho anh Minh biết là mình sẽ kịp đến
để dự birthday của ảnh nữa?” Giọng một người đàn bà ngồi ở dãy ghế trước mặt
anh õng ẹo hỏi.
“Rồi và
rồi,” giọng một người đàn ông trả lời, nghe vừa dấm dẳng, vừa trìu mến.
Em ạ, hẳn
là hai người đó là khách du lịch thứ thiệt. Họ biết chắc những nơi mình sẽ đến.
Còn anh thì cũng đang “du” mà lòng hoang mang khôn tả, không biết sẽ đi về đâu,
và sẽ “lịch” những gì sắp tới, hoạ phước khôn lường. Anh chợt nghĩ, hay đây là
một giấc chiêm bao thôi, cũng như bao lần anh đã chiêm bao thấy những chân trời
xa lạ. Trong đó, lúc thì có em, lúc thì vắng em. Và lần nào cũng như lần nào,
anh thấy thương em quá đỗi, thương đến quặn lòng, đến ứa nước mắt, đến nghẹn
ngào, đến không còn ngôn ngữ. Cuộc sống của em và anh tự bao giờ đã không còn
biên giới. Ngày lẫn vào đêm. Mộng hoà với thực. Thức mà như đang ngủ. Ngủ mà vẫn
thao thức trong hồn. Cười mà như đang khóc. Khóc mà như đang ngạo nghễ cười
trên số phận.
Máy bay
từ từ chuyển động. Quê hương bắt đầu xa dần. Em bắt đầu xa dần. Máy bay lướt
trên đường băng một đỗi, rồi ngừng hẳn lại. Đột nhiên, nó rú lên thật lớn rồi
nhấc bổng lên không. Giã từ quê hương. Giã từ em. Không, mình sẽ gặp lại mà.
Chúng ta đã hứa với nhau như thế, phải không em?
Tân Gia
Ba. Quê hương của Lý Quang Diệu. Nơi mà ngày xưa người ta còn nhìn Sài Gòn bằng
cặp mắt thèm thuồng lẫn thán phục. Chỉ cách quê nhà hai tiếng đồng hồ đường
chim bay, nhưng đây là một thế giới khác. Anh không được tận mắt nhìn thấy thế
giới đó. Trong khi những kẻ du lịch thứ thiệt hân hoan ra khỏi phi trường, hoà
vào nhịp sống rộn rịp bên ngoài, anh lủi thủi bước theo người “hướng dẫn tour”
đi sang một cổng khác để đổi máy bay. Bây giờ anh mới nhận ra là trong nhóm của
mình còn bốn người khác nữa, bốn du khách bất đắc dĩ, hai người đàn ông và hai
người đàn bà.
Chặng thứ nhì
Hôm nay là một ngày kỳ lạ. Anh không biết chắc rằng đang
nằm mơ thấy mình đang từ một chiếc máy bay bước ra phi cảng của một xứ miền xa
lạ, hay đang thật sự ở đó và sắp sửa đi ngủ để chìm vào một giấc chiêm bao. Bây
giờ anh đâm ra sợ cả hai: Sợ phải thức để đối diện với nhiều cảnh ngộ đau lòng,
và sợ phải ngủ để phải sống thêm một lần nữa mỗi ngày. Anh tự hỏi có còn một cảnh
giới thứ ba nào cho anh trốn vào trong đó không. Em nghĩ sao?
Thủ đô
Madrid. Người ta bảo thế thì anh nghe thế, chứ cũng có thấy được mặt mũi của
thành phố nổi tiếng này ra làm sao đâu. Trong lúc đi qua chỗ đổi máy bay, anh
lan man nghĩ đến chuyện chàng hiệp sĩ Don Quixote mà hồi nhỏ anh có dịp đọc qua
một bản dịch tiếng Việt. Ngày đó, anh biết đến ông ta với cái tên Đồng Ký-khốt,
cùng anh chàng hầu cận San-chồ. Hồi nhỏ, anh đọc là đọc vậy thôi, chẳng hiểu là
bao, ngoài cảm giác sờ sợ về người hiệp sĩ không được bình thường đó. Giờ đây
ngẫm lại, anh mới dần dần hiểu ý nghĩa thâm sâu của cuốn tiểu thuyết của
Cervantes. Anh chợt mỉm cười thích thú với ý nghĩ mình vừa là Đồng Ký-khốt, vừa
là San-chồ. Một nửa của anh đã Đồng Ký-khốt hoá San-chồ, biến thế giới thực tế
của anh chàng nông dân chân chất này thành một thế giới mộng mị, đồng thời nửa
kia của anh đã San-chồ hoá Đồng Ký-khốt, biến thế giới đầy ảo tưởng của chàng
hiệp-sĩ-tự-phong đó thành thực tế phũ phàng.
Chặng thứ ba
Chặng thứ tư
São Paulo—thành phố của thánh Phao-lồ chào đón anh và
nhóm người đi vượt biên kiểu tân thời. Dĩ nhiên là bọn anh cũng chỉ được quanh
quẩn trong phi trường như mấy chặng trước, nhưng hình như—chẳng biết anh có tưởng
tượng hay không—anh đã hít thở được không khí nồng nàn của Ba Tây, mang tên một
loài cây rừng cho gỗ quý, xứ sở của vũ điệu samba cuồng nhiệt bắt nguồn từ lục
địa Phi châu. Ở đây cái gì cũng có vẻ rộn ràng cả, dù anh không được ra bên
ngoài để chứng kiến. Anh hình dung ra một đất nước lúc nào cũng tưng bừng với
những carnaval đầy màu sắc và âm thanh, những trận túc cầu
vang danh thế giới, chẳng vậy mà xứ sở này còn có biệt danh là Terra
do Futebol.
Nhưng
Ba Tây còn đặc biệt với anh về một điều nữa, đó là anh Vũ đã từng sống nơi đây
trong một thời gian. Mới đó mà anh Vũ đã ra đi gần hai mươi năm trời rồi, em biết
không. Ngày anh ấy ra đi, hai đứa anh còn là hai thằng nhóc mới lên chín, lên
mười. Anh còn nhớ ngày nhận được tin chiếc ghe của anh Vũ được con tàu chở dầu
mang tên São Sebastiao cứu vớt và mang về Ba Tây, mẹ anh đã oà
ra khóc vì sung sướng. Nhưng anh Vũ chỉ liên lạc về nhà trong vòng một năm đầu,
rồi sau đó bặt vô âm tín. Mẹ anh đã chờ tin con mòn mỏi, chờ mãi, chờ mãi, đến
khi bà mất đi trong tiếc nhớ. Em có nghĩ là một người khi chết đi vẫn còn chờ đợi
một ai hay một điều gì đó không? Anh thì tin như vậy. Duy có điều bây giờ anh
như bị mê mê hoặc hoặc, không biết là anh Vũ có thật hay không. Cũng như anh
không chắc rằng những ngày xưa có thật không. Cái gì không thấy—hay không còn
thấy—là đều không có thật. Ngay cả những ai, những gì ngay trước mắt rồi cũng
tan biến đi chóng vánh. Nghĩa là có thật đó rồi cũng hết thật.
Chặng thứ năm
Sau hơn 10 tiếng bay, anh đã đến Mexico City—thành phố
ngày xưa của người Aztec còn mang tên Tenochtitlan vào thế kỷ
thứ 16. Lần này, anh thấy được một góc của thủ đô xứ Mễ Tây Cơ, được ra khỏi
phi trường trên một chuyến xe buýt, len lỏi qua những con đường đông đúc, xe cộ
như mắc cửi. Xe chạy ròng rã hai ngày một đêm về hướng bắc, qua những xa lộ tối
tân hay những con đường thôn quê hẻo lánh. Anh chợt thèm muốn cuộc sống lặng lờ
của người dân bản xứ. Vậy mà ở đây mỗi ngày vẫn có biết bao nhiêu người, bằng cách
này hay cách khác, tìm cách đi đến El Norte, để tìm tới giấc mộng
Huê Kỳ, hay tìm chút tự do mà ở quê nhà không có. Cũng như anh. Như em. Chỉ có
khác là em đã hy sinh để anh ra đi trước. Những gì em đã làm cho anh, cho chúng
ta, còn vượt xa cả ngàn dặm đối với hai chữ hy sinh. Số tiền em chắt chiu bằng
mồ hôi nước mắt, cùng với những món tiền vay mượn khác bằng cả chục năm trời mới
may ra có được, nếu đừng ăn, đừng uống, đừng mặc, đừng tiêu xài gì cả. Vậy mà
em đã gom góp được, cho anh ra đi. Vì, như bao lần em đã nói, “Cái đầu này
không nên sống ở đây!” “Cái đầu” của anh, thật ra có đáng gì đâu em. Nó chỉ chất
đầy văn chương viển vông, chữ nghĩa hão huyền, từ những chân trời huyễn tưởng,
những lời say sưa tuôn ra trên giảng đường, nhưng lúc nào anh cũng nơm nớp sợ bị
nghe ngóng, dòm ngó. Đổi lại là những đồng tiền khiêm nhượng không đủ cho em sắm
một cái áo đẹp cho bằng chúng bạn. Nhưng, em biết đó, anh ra đi không vì tấm
áo, manh quần. Anh ra đi để mong nói được những lời từ trái tim, từ khối óc mà
không sợ bị ai bắt bẻ. Anh ra đi vì “người ta không chỉ sống bằng bánh mì”.
Tijuana—thành phố địa đầu nước Mễ Tây Cơ, nơi bọn anh đặt chân xuống sau gần 40
tiếng đồng hồ đường bộ. Ngày xưa, lãnh thổ Mễ còn tràn lên phân nửa miền tây
Hoa Kỳ. Di dân Mễ ngày nay thường nói—vừa khôi hài, vừa cay đắng—“Chúng tôi
không vượt qua biên giới, mà biên giới vượt qua chúng tôi.”
Người dẫn
đường từ Việt Nam giao bọn anh cho hai người bản xứ mặt mày hung tợn, rồi anh
ta nhanh chóng rút lui. Anh lại tự hỏi từ đầu đến giờ, anh ta có thật hay
không. Còn lại hai nhóm người bất đồng ngôn ngữ, khác cả màu da, chẳng ai hiểu
ai cả. Bọn anh bắt đầu cuộc hành trình đi bộ, xa dần thành phố và đi vào những
con đường thôn quê hay những khóm rừng rậm rạp. Hai người dẫn đường chỉ toàn ra
dấu cho nhóm người đi theo. Không còn những lúc ung dung trên máy bay, chuyển từ
chuyến này qua chuyến nọ, hay đi qua những hành lanh trong phi cảng sang trọng,
hào nhoáng, ăn trắng mặc trơn. Ai nấy đều bắt đầu thấy đói và khát, phải lục
tìm trong túi xách tất cả những gì có thể vừa đi vừa ăn uống được. May sao, đến
một đoạn đường có một người Việt gia nhập đoàn của bọn anh, mang thêm một ít đồ
khô và nước. Anh ta chắc ở đây lâu năm nên nói tiếng Tây Ban Nha lưu loát không
kém gì những tay địa phương. Hoá ra anh ta làm thông dịch cho nhóm. Anh ta nói
tiếng Việt hơi lơ lớ, nhưng cũng đủ cho mọi người hiểu phải làm gì.
Em biết
không, những gì anh phải làm hôm đó nhắc anh nhớ lại những năm đầu mất nước ở
quê nhà. Lúc đó, tuy còn nhỏ, anh cũng đã phải đi lao động, vào rừng, lội suối,
đào mương… Và bây giờ, hai mươi mấy năm sau, anh lại phải cuốc bộ đường trường,
lội qua những con suối nước đục ngầu, dưới ánh nắng chang chang ban ngày và những
cơn mưa bất chợt ban đêm. Bọn anh dựng tạm những cái lều dã chiến để tạm nghỉ
ngơi giữa những chặng đường, khi trên bộ, lúc dưới suối, hay xuyên qua những
khu rừng nhỏ.
Vậy mà cả
bọn đã đi bộ đến ba ngày trời. Cuối cùng, trước mặt anh là gì, em biết không?
Là một bức tường dài như vô tận bằng song sắt, cao sừng sững, dễ đến 10 mét. Bỗng
dưng anh muốn khóc và nhớ tới lời ông mục sư da đen Martin Luther King đã nói,
“Let’s build bridges, not walls.” Biên giới là đây sao? Biên giới bắt đầu từ
đâu? Từ những bàn tay xây dựng, hay từ những quyết định của những con người có
uy quyền trong tay? Hay từ khi con người cảm thấy “lòng ta sao vẫn còn biên giới”
như người nhạc sĩ họ Phạm đã nói—như một lời tiên tri cách đây gần cả 80 năm trời.
Tiến—anh
thông dịch viên người Việt—bảo bọn anh, “Từ chỗ này, chúng ta sẽ đi dọc theo bức
tường thêm vài cây số nữa, tới chỗ có một khoảng trống còn đang xây dở dang, rồi
đợi đêm tối xuống sẽ tìm cách qua bên kia.”
“Bên
kia” là nơi bừng sáng lên cả trăm ngàn ánh điện lấp lánh ban đêm mà từ chỗ tường
biên giới bọn anh đang dừng chân. Vùng ánh sáng chói loà trong đêm tối đó như
những lời hứa hẹn hấp dẫn nhất. Nguồn sáng đó—anh lại tự hỏi—có thật hay không,
hay chỉ từ trí tưởng tượng?
Cả bọn lại
lầm lũi đi tiếp, khi trời sụp tối thì cũng cũng vừa đến nơi đã hẹn với một nhóm
người khác để bàn giao. Tiến nói chuyện với ba người mới đến, trong khi hai người
Mễ đầu tiên đã đi mất. Một trong bọn họ thì thầm nói:
“No es
posible cruzar esta noche. La seguridad es muy estricta.”
Tiến
quay lại cho bọn anh biết:
“Họ bảo
tối nay không qua được. An ninh gắt lắm.”
Cả bọn lại
xì xầm với nhau hồi lâu. Tiến lại nói:
“Không
xong rồi. Tình hình này có thể kéo dài chưa biết tới lúc nào. Các anh chị có thể
chọn một trong hai giải pháp: Một là quay về Ba Tây, chờ tình hình sáng sủa hơn
sẽ qua Mễ lại. Hai là từ đây đi thẳng qua Bồ Đào Nha, để có cơ hội định cư luôn
ở đó. Chúng tôi có đường dây đi qua bên ấy.”
Anh và bốn
người trong nhóm hội ý với nhau. Cuối cùng, một cặp vợ chồng quyết định quay lại
Ba Tây, còn anh và cặp vợ chồng kia muốn đi tiếp. Tiến mang lại cho ba người ba
tờ giấy, bảo:
Chặng cuối cùng
Nhờ món nợ mới, bọn anh được một chiếc xe Jeep đến đón ra
phi trường. Từ đó, máy bay đi Mexico City để quá cảnh rồi bay tiếp đi Ma-rốc.
Trên chuyến bay cất cánh từ phi trường Mễ Tây Cơ, anh mới biết được sẽ đi
Casablanca. Casablanca! Anh làm sao quên được siêu phẩm điện ảnh trắng đen về
cuộc tình sóng gió của hai nhân vật do Humphrey Bogard và Ingrid Bergman thủ diễn,
cũng như bài hát trữ tình cùng tên với giọng ca bất hủ của Bertie Higgins.
Nhưng ngay lúc này anh không còn lòng dạ đâu mà thưởng thức cảm giác được đến
thành phố nổi tiếng này nữa. Vì từ đó, bọn anh phải đáp xe lửa mất hai tiếng ra
cảng El Jadida. Đến cảng, có người dẫn xuống thuyền để đi—thật ra là để trốn—sang
Bồ Đào Nha. Vậy là cuối cùng anh đã trở thành thuyền nhân, em ạ.
Chuyến hải
hành, một chuyến vượt biển thật sự mà anh không hề ngờ tới lúc ban đầu, phải mất
đến hai ngày trời mới đến được bến bờ. Anh nằm bẹp trên thuyền, dưới là nước,
trên là trời, còn trong lòng rỗng không, chẳng một hạt cơm lẫn một tia hy vọng
nào. Anh chỉ uống nước cầm chừng. Cảm xúc và cảm giác đều tê dại. Trí óc nhưng
đông cứng lại. Và anh nghĩ đến em. Chỉ có em là điều duy nhất còn sót lại trong
trí anh trong những giờ phút ấy. Và anh thấy mình không được quyền buông xuôi,
không được quyền bỏ cuộc.
Chiếc
thuyền lặng lẽ, đúng hơn là lén lút, tấp vào một bãi biển hoang vắng của miền
Algarve. Cả một vùng biển nằm ngái ngủ trong đêm khuya lạnh lẽo vào tháng Mười.
Xa xa là ánh điện sáng choang của một thành phố nào đó. Khi ba người trong bọn
anh cùng người lái thuyền vừa đặt chân xuống mặt cát mềm, ướt đẫm sương đêm thì
đột nhiên có tiếng súng lên cò lách tách và một giọng lạnh lùng, sang sảng cất
lên:
“Não se
mexam! Vocês estão presos!”
Không cần
hiểu câu nói đó, bọn anh đã biết phải làm gì, vì người lái thuyền đã vội đưa
hai tay lên trời. Thế rồi chuyện gì phải đến đã đến. Bốn người xâm nhập trái
phép được đưa về một nhà giam gần đó. Cả bọn được phát quần áo, mền gối để qua
đêm, sau khi mỗi người được ăn một đĩa cơm mà họ gọi là arroz de
tomate và uống một ly nước lạnh. Đó là ly nước lạnh ngon ngọt nhất
trong đời anh, em ạ.
Và đêm
hôm đó cũng là đêm anh ngủ ngon nhất, sau bao nhiêu ngày lênh đênh từ nước này
sang nước khác, khi thì bay trên không, khi thì đi trên đất và khi thì nổi trôi
trên sóng nước. Đang bị giam cầm mà anh bỗng thấy tự do hơn bao giờ hết. Anh ngủ
một giấc không mộng mị. Khi hai mắt anh nhắm lại, thế giới chỉ còn lại một
không gian, một thời gian, không còn trên dưới, tả hữu, trong ngoài gì nữa. Vũ
trụ trở thành nhất nguyên.
Buổi
sáng, anh và cặp vợ chồng cùng đi giật mình thức giấc vì tiếng ồn ào bên ngoài.
Lúc bấy giờ, anh mới chợt thấy là còn nhiều người khác bị giam gần bọn anh. Mấy
người cảnh sát nhìn nhau lắc đầu, vẻ ngao ngán. Anh đoán chắc họ đã quá quen với
cảnh này.
Bên
ngoài, có tiếng la đồng thanh:
“Liberdade para os inmigrantes!”
Trong
xà-lim bên cạnh, một người ngó qua bọn anh, giảng nghĩa rành rọt bằng tiếng Việt:
“Họ đòi
trả tự do cho chúng ta đó!”
Người vợ
trong nhóm ba người bọn anh tò mò hỏi:
“Anh người
Việt hả? Anh đi từ đâu tới vậy?”
“Ba
Tây!” Anh ta đáp, giọng có chút tự phụ.
“Ở bên
đó không sướng sao, qua đây chi cho bị bắt?” Đến lượt anh chồng hiếu kỳ.
“Sướng
gì mà sướng!” Anh ta bĩu môi. “Tham nhũng thấy mẹ, từ trên xuống dưới!”
Tiếng gõ
cửa nghe dồn dập. Một viên cảnh sát mở hé cánh cửa, nói với những người bên
ngoài:
“Chúng
tôi chỉ mời ông cảnh sát trưởng Coelho và một người đại diện của AIMA vào
thôi.”
Từ chỗ
mình đang ngồi, anh thấy một người đàn ông có vẻ là Á châu và một người đàn bà
tóc vàng bước vào. Anh chàng người Việt nhanh miệng nói:
“Ha! PSP
đụng độ AIMA!”
Nhìn qua
nét mặt ngơ ngẩn của bọn anh, anh ta tiếp luôn:
“Polícia
de Segurança Pública đụng độ Agência para a Integração
Migrações e Asilo!”
Ai nấy đều
nhún vai, vì anh ta có nói đầy đủ mấy chữ viết tắt thì bọn anh vẫn như vịt nghe
sấm. Người chồng lộ vẻ khâm phục:
“Anh chắc
ở bên này lâu rồi nên nói tiếng nghe thành thạo quá hen!”
“Năm năm
ở Ba Tây, ba năm ở Bồ Đào Nha này,” anh ta phổng mũi đáp.
Người
đàn ông Á châu và người đàn bà tóc vàng nói chuyện với mấy viên cảnh sát một
lúc rồi quay lại, tiến đến gần bọn anh. Anh chợt lạnh toát người, nói không
thành tiếng:
“Anh Vũ!
Anh Vũ! Em đây… Chương đây… Em của anh đây!”
Anh Vũ
nhìn anh như nhìn xuyên suốt một vật vô hình, tựa hồ như không thấy anh, đừng
nói chi nghe những gì anh vừa thốt lên. Người đàn bà hỏi anh Vũ:
“Anh ta
nói gì với ông vậy?”
“À,” anh
Vũ đáp, “anh ta nói ‘Cứu tôi với’. Cô biết đó, di dân nào cũng nói câu đó cả, bằng
nhiều thứ tiếng khác nhau.”
Anh tuyệt
vọng ngó về hướng anh chàng người Việt, khẩn khoản:
“Anh nói
giùm với bà kia cho tôi đi.”
“Ele
disse que é irmão desse homem,” anh người Việt nói.
“Có thật
vậy không?” Người đàn bà hỏi anh Vũ.
“Chắc hắn
lầm tôi với ai đó,” anh Vũ thản nhiên đáp rồi nói tiếp, “Cô có muốn giúp những
người này làm giấy tờ để được trợ cấp tạm thời thì cứ việc, nhưng cuối cùng nếu
họ không chứng minh được tình trạng di trú thì… cô biết chuyện gì sẽ xảy ra rồi
đó.”
Nói
xong, anh Vũ—đúng hơn là comandante Coelho—quay ngoắt đi, bước hẳn
ra ngoài đường. Anh người Việt, cặp vợ chồng cùng đi, và nhiều người khác nữa
nhất loạt nhìn anh đang đứng như vừa hoá đá.
Em biết
không, ngay lúc đó, anh mới chắc rằng mình đã đúng. Rằng anh Vũ là không bao giờ
có thật.
Trần C. trí
