Sau cuộc làm tình đầu tiên, bốc lửa, trong căn lều giữa rừng
mát lạnh, trong phim Random Hearts, Kay Chandler, do Kristin Scott
Thomas thủ vai, vừa khóc vừa quay lại hỏi:
Anh có phải là người của đảng Dân chủ không?
Kay đang là ứng cử viên dân biểu của Cộng hòa.
Harrison Ford, trong vai William “Dutch” Van Den Broeck, trả
lời:
Nếu phải thì sao?
William là cảnh sát viên, ủng hộ đảng Dân chủ.
Kay: Nếu thế thì chúng ta sẽ nói chuyện. Em sẽ mang sách lại
cho anh đọc.
Chúng ta không biết cô sẽ mang những sách gì cho anh đọc,
nhưng chúng ta biết cô tin rằng sách sẽ làm anh thay đổi.
Vì chúng ta đọc sách để thay đổi.
Tháng ba là tháng của đọc sách. Ngày 1 tháng 3 năm 2026,
Harrison Ford, trong phim nói trên, nhận giải thưởng thành tựu trọn đời Life
Achievement Award. Thế nào là một người đọc lý tưởng? Người đọc lý tưởng không
phải là người lắng nghe câu chuyện, người ấy tham gia vào câu chuyện. Người đọc
lý tưởng là một người viết không viết. Khi còn trẻ, tôi đọc sách. Nhà tôi có một
tủ sách lớn. Đó là tài sản duy nhất tôi có thời thơ ấu. Kỳ lạ thay trong làng
quê, nơi có nhiều ngôi nhà bỏ hoang, chỉ còn phụ nữ và trẻ con vì thanh niên phải
đi lính cộng hòa hay nhảy bưng, trong buổi trưa vắng chỉ có tiếng gà gáy tôi
tìm thấy những cuốn sách trên bàn phủ bụi, trong rương đựng lúa. Ở đó, một buổi
trưa tôi tìm thấy cuốn Người thầy học cũ của Mai Thảo, và một
căn nhà khác, Khế ước xã hội của Jean-Jacques Rousseau, nhà
khác nữa, Lục mạch thần kiếm của Kim Dung. Tôi không hiểu hết
chúng. Tôi mới lớn, chưa biết con gái là gì, nhưng cuộc tình bi thương của Kiều
Phong hiện ra lộng lẫy như ẩn dụ của đời sống. Tôi biết nhiều người đọc nhanh,
còn tôi đọc chậm vì tôi yêu mến chữ. Tôi để cho chữ mang đi như con suối mang
tôi qua ghềnh thác. Tôi đọc Thằng người gỗ Pinocchio của nhà
văn Ý Collodi cùng lúc với Dế mèn phiêu lưu ký của Tô
Hoài, Gởi hương cho gió của Xuân Diệu cùng Nhã Ca mới của
Nhã Ca. Những tiểu thuyết về tuổi thơ của Duyên Anh, từ thằng Côn đến thằng Vũ,
từ Con Thúy đến Chương Còm, làm sống dậy trong tôi không những cái đẹp của tuổi
thơ mà còn tình yêu đối với đất Bắc. Không một người nào không có kỷ niệm về những
cuốn sách tuổi thơ, nhưng chúng rơi vào quên lãng, như bài thơ đầu tiên, như lý
tưởng đầu tiên rơi vào quên lãng. Con người tự mình làm nô lệ không phải chỉ
cho tiền bạc danh vọng, mà còn nô lệ cho các lý thuyết xã hội, giam cầm con người
trong những hệ tư tưởng đẹp nhưng lỗi thời. Ngôn ngữ có sức mạnh ghê gớm, trong
khi chúng chiếu sáng những khuôn mặt khác nhau của sự thật thì cũng thừa sức
đưa người vào chỗ mê loạn, trong khi chúng tạo ra bài thơ làm rung động tâm can
thì cũng làm ra biết bao bùa chú hãm người ta vào hoang tưởng. Đọc sách là cách
tốt nhất để học ngôn ngữ, làm chủ ngôn ngữ, vì ngôn ngữ không chỉ là phương tiện
của thông tin, chính chúng tạo ra suy nghĩ.
Tháng ba, mùa xuân, tôi nghĩ về tuổi trẻ. Tháng ba của
Céline Dion sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968. Dion là giọng hát huyền thoại: Tell
Him, The Power of Love, My Heart Will Go On. Tôi tình cờ xem lại cuốn
phim Titanic. Titanic là tình yêu của tuổi trẻ, dục
vọng điên rồ. Không có gì đẹp hơn tuổi mới lớn, không có gì đúng đắn hơn và
không có gì sai lầm hơn tình yêu của tuổi trẻ, không có gì chết người hơn.
Leonardo DiCaprio trong vai Jack, trao một chỗ cho Kate Winslet trong vai Rose
trên chiếc thuyền mong manh cứu hộ, anh chìm xuống trong lớp băng giá. Điều tuyệt
đẹp là có lẽ không một chàng trai trẻ nào là không muốn làm thế trước tình yêu.
Tôi nhìn thấy cảnh những người đàn ông tung tiền mặt lên không, những người đàn
bà mang hết nữ trang vào đón cái chết, người nhạc sĩ chơi bản vĩ cầm cuối cùng,
những người giàu có bình tĩnh bước đi trên sàn tàu khi họ nhường chỗ cho phụ nữ
và trẻ em, cặp vợ chồng hôn nhau lần cuối, tôi lắng nghe bản nhạc của Céline,
ngân nga bất tận, cũng bất tận như tình yêu và cái chết, hai nỗi ám ảnh của con
người. Tôi biết trong khán giả nhiều người khóc. Nhân loại cần khóc như thế để
yêu hơn đời sống trên trái đất, sự tồn tại vô vọng của chúng ta, cuộc chiến đấu
của chúng ta không cân sức với thời gian. Somerset Maugham: Nếu bạn không chấp
nhận những điều tầm thường, và chỉ chấp nhận những điều cao quý nhất, thường
khi bạn đạt được nó. Tôi nhớ đến câu nói này khi nghĩ về dân tộc chúng ta. Đã
quá lâu, chúng ta chấp nhận sự an toàn tầm thường. Đêm xuân trong vườn, khi mặt
trời lặn, nhà lên đèn, những bông huệ trắng của mẹ tôi trồng gần giếng nước bắt
đầu rung động như một loài bướm đêm cánh trắng. Tôi mở lớn mắt, nhìn chúng, đứng
giữa thơm ngát hương, bắt đầu suy nghĩ. Cái đẹp làm tôi suy nghĩ, sự đau khổ
làm tôi nhớ lại. Đêm, nhành cây trĩu nặng xuống không phải vì sương mà vì mùi của
hoa bưởi. Buổi sáng mai thức dậy mặt đất đầy dấu vết của cái chết. Sự hồi sinh
chưa tới. Sẽ tới bụi mía sau vườn, cây chanh hoa trắng muốt gần chuồng gà, cây
ngô đồng có trái như bánh xe. Hàng chè tàu có ma nữ đa tình áo trắng nằm trên
đó. Vườn cải đơm bông, luống khoai lang hoa tim tím nơi cô bé hàng xóm làm rơi
chiếc trâm cài tóc. Tổ chim quá nhiều trứng chim, nặng quá rơi xuống trên sân gạch.
Chiếc gậy của những bà già hàng xóm chụm đầu vào nhau. Bức tường có chữ viết bậy
ở thành phố. Khuôn mặt người đàn ông trong bụi cỏ, giữa hai hàng rào thép gai.
Chùm nho đầu tiên mẹ tôi trồng chưa kịp ăn trước mùa hè chiến tranh. Con dao cắt
thịt sáng lóa trên bàn ăn. Chiếc áo cưới trong tiệm trên đường Quang Trung, Quảng
Trị, treo lủng lẳng, sẽ không bao giờ có người mặc nữa, tháng ba, 1972. Đôi khi
mùa xuân, một cơn mưa tới, một trang sách mở. Một trang sách là điều gì vậy? Một
trang sách gồm những chữ, nằm giữa các lề sách. Những chữ ấy bất động vĩnh viễn
không thay đổi. Trang sách chính là nơi người đọc gặp tác giả, như trong một
căn phòng có hai người trò chuyện. Tôi mở trang sách. Chúng tôi bắt đầu trò
chuyện, thú vị và gay gắt, khi buồn, khi vui, khi đồng ý, khi không, nhưng
trang sách ấy làm nên đời sống chúng ta, làm cho cuộc đời trở nên thú vị, hiện
hữu có ý nghĩa. Tôi gặp những người không đọc sách. Tôi trò chuyện với họ. Tôi
quan sát họ. Vì bạn đang đọc dòng chữ của tôi, nên bạn không thuộc về họ, nên bạn
không hiểu rằng những người không đọc sách sống ra sao. Họ sống vô vị, tầm thường.
Nhìn lại, tôi thấy chúng ta thật may mắn. Một người đọc lý tưởng là một người
viết nhưng không viết. Tháng ba 1998, tôi đọc tạp chí Văn, số 15,
Nguyễn Xuân Hoàng trong Sổ tay: “Như vậy là nhà văn Mai Thảo đã chia tay chúng
ta, tác giả ‘Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời,’ như nhân vật trong truyện của
anh, khám phá một điều là những kẻ đã tới đích đều tầm thường, những cái đã đạt
được đều tầm thường. Trong khi trả lời phỏng vấn của Katz trong tập Nghệ
sĩ lưu vong, Mai Thảo nói truyện ngắn ‘Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời’ là
truyện ngắn mà anh thích nhất.” Tháng ba tức là tháng hai âm lịch, miền Trung
quê tôi, mưa vẫn nhẹ hạt, mịn màng, mùa hè chưa tới, thời tiết mát mẻ. Đêm ngủ
say, ngước nhìn vầng trăng qua cửa sổ, lật gối mà nhớ lại người thương, tháng ấy
ở miền Bắc trời lạnh, ở Sài Gòn thì nóng lắm, nhưng ở miền Trung lộc ra tím
cành, lá non mơn mởn, lúa mấp mé thì con gái. Thời bé tôi có cái thú đi theo những
ông anh họ của tôi, đi ăn quà vặt vào tháng ấy. Bánh ướt chợ Sãi, cháo bánh
canh Diên Sanh, mực Mỹ Thủy, cà phê Dốc Miếu bụi đỏ. Thời ấy còn nghèo, ăn uống
tiết kiệm, khách nhường cho nhau, nhưng các ông anh tôi rộng rãi, nên tôi được
dẫn đi nhiều nơi, ngồi bên bếp lửa, ngửi mùi rượu mới cất, dù không biết uống.
Cái thú ngày xuân ấy tao nhã biết bao, tôi thấy người dân thời trước hiền lành
tử tế, thương quê mình nghèo mà đẹp, không biết bây giờ còn không?
Ngày 2 tháng 3, ngày đọc sách. Ngày 20 tháng 3, ngày kể chuyện.
Nguyễn Hiến Lê kể: Hoàng Công đọc sách ở trên nhà, người thợ đẽo bánh xe tên là
Viễn ở dưới sân, bỏ dùi đục mà tiến lên hỏi Hoàng Công: Dám hỏi nhà vua đọc những
sách nào vậy?
Hoàng Công đáp: Ta đọc lời của thánh nhân.
Thánh nhân còn sống không?
Chết hết rồi.
Vậy thì những lời nhà vua đọc chỉ là cặn bã của cổ nhân
thôi.
Ngày 5 tháng 3, 1946, diễn văn lừng lẫy của thủ tướng
Winston Churchill, gọi tên bức màn sắt. Thế giới vừa chấm dứt cuộc Thế Chiến II
đã để lộ ra cuộc chiến tranh với bức màn sắt ngăn cách hai thế giới, thế giới cộng
sản và thế giới tự do. Cuộc chia đôi này chính là nguyên nhân sâu xa của chiến
tranh Việt Nam hai mươi năm. Ngày 16 tháng 3, 1968, một tháng sau thảm kịch Huế
Mậu Thân, là vụ thảm sát Mỹ Lai, với 504 người dân bị giết. Ngày 22 tháng 3 năm
2006, Thanh Tâm Tuyền qua đời ở thành phố Saint Paul, Minnesota, 70 tuổi. Năm
1996 ở Toronto, trên điện thoại của một người bạn, một nhà nghiên cứu văn học,
tôi được hầu chuyện ông một vài lần. Ông là kẻ mở đường của văn học tự do Việt
Nam, là người tài hoa, khiêm nhường, đầy sĩ khí. Chỉ một hai lần nói chuyện,
nhưng tôi ghi nhớ mãi những bài học của ông. Gần hai mươi năm trước, một ngày
mùa xuân trên núi Yên Bái, người tù cải tạo Thanh Tâm Tuyền chống cuốc nhìn trời:
Là một nhà thơ tiên phong của thơ tự do, với một thứ ngôn ngữ
mới mẻ, gay cấn, gây sự, Thanh Tâm Tuyền có những khoảnh khắc mềm mại dịu dàng,
trầm lắng, lúc ấy ông không kêu gọi, không đập phá, và thơ gần như trở về với
bút pháp cổ điển:
Đó là năm 1956. Thơ Thanh Tâm Tuyền là một ngôn ngữ thời sự
trữ tình hết sức thời sự, hết sức trữ tình. Một tài năng vượt ra ngoài những hạn
chế của thời đại mình, những lập trường chính trị ngây thơ và hèn mạt, sự giam
giữ thể xác và tâm hồn.
Đó là trong thơ, nhưng trong văn xuôi, sự quyến rũ của Thanh
Tâm Tuyền đối với tôi nằm ở điểm khác, đó là sự hờ hững của nhân vật đối với
các vấn đề thời sự, lãnh đạm cả với tình yêu. Đọc “Bếp lửa,” một tác phẩm đầu
tay thực ra không phải xuất sắc lắm, đến tác phẩm cuối cùng, “Ung thư,” dở dang
trên Văn, bút pháp hờ hững, thái độ bất cần, làm tôi yêu mến ông.
Sau phong trào thơ mới, và chín năm tan tác, văn học Việt Nam bắt đầu nhìn thấy
con đường, trong khi những cố gắng của Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng mau
chóng bị dập tắt, cùng với những cố gắng lẻ loi của Nguyễn Đình Thi trước đó,
thơ tự do đã tìm được tiếng nói mình ở miền Nam, với Thanh Tâm Tuyền. Thơ tự do
không chỉ là sự khác biệt về thể loại so với thơ có vần thời kỳ thơ mới mà đó
là một trường thẩm mỹ. Trường thẩm mỹ ấy chỉ được sinh ra trong một thời đại mới,
với ba yếu tố, một xã hội tự do, ảnh hưởng của phương Tây nhất là Pháp, và ý
chí chủ quan của người làm văn nghệ mới. Con đường của họ là tự do cá nhân,
không phải là một khuynh hướng ích kỷ mà là sự chống lại chủ nghĩa tập thể, sự
tiêu diệt tự do trá hình. Khi từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn, tiếng Việt thay đổi, chịu
ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện thực ở miền Bắc, như phương pháp sáng tác và chủ
nghĩa hiện đại ở miền Nam, như khuynh hướng triết học và thẩm mỹ, đi tìm sự thật
trong những mảnh vỡ, suy cho cùng vẫn là cái đẹp ở tầm nhìn mới, cao hơn, đau đớn
hơn.
Tháng ba là tháng của sự thức tỉnh. Ở đây mùa đông chưa đi hẳn,
mùa xuân đã tới, và con người bắt đầu nhớ lại những gì mình đã sống. Sáng nay
con sóc đầu tiên xuất hiện trong vườn. Nó đứng im một lúc trên cành rồi nhảy
lên bụi sơn trà, bắt đầu ăn những trái sơn trà đầu tiên, nhoay nhoáy nhả vỏ ra.
Con sóc đầu tiên trên bụi sơn trà là dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân. Đó có phải
là con sóc năm ngoái không? Một điều gì còn lại, một điều gì đang tới. Đời sống
chỉ bắt đầu ở nơi mà chúng ta chấm dứt cương vực an toàn của mỗi người, bước tới
vùng nguy hiểm hơn. Bao nhiêu người không biết rằng họ có thể làm bao nhiêu việc.
Một dân tộc cũng vậy, nó cúi đầu nô lệ vì không biết sức mạnh của chính nó. Tôi
về nhà, một căn nhà nhỏ của chúng tôi gần bờ biển, tôi lau sạch bàn ghế, rửa ấm
chén, lau bếp, thay bóng đèn. Sau nhiều tháng mùa đông, rêu mọc xanh quanh thềm,
những máng xối đầy lá mục, cỏ hương nhu mọc cao, nhưng những bụi lài trước thềm
đã xanh tươi trở lại, nụ hoa trắng đầu tiên nhú ra. Chúng tôi lái xe suốt ba
ngày hai đêm để tới đây, dọc đường những ngôi sao xuống thấp, to và sáng như ở
quê mình. Một người ngủ. một người lái xe trong im lặng, tôi nhìn cườm tay trái
nơi chiếc đồng hồ mà tôi đánh mất. Chúng tôi đến thế gian này để nhận được và để
đánh mất. Tôi nhớ một người đàn bà đứng trước gương khi tôi tình cờ bước vào
phòng, một người đàn bà đang thử áo quần, đang chải tóc, đang tô son trên vành
môi của nàng, quay lưng lại, thế rồi cô nhìn vào gương mỉm cười trước sắc đẹp của
mình, đẹp đến nỗi tự yêu mình đến thế, tôi nhớ lại như một mùa xuân đã xa,
tháng ba trước cuộc chiến tranh, trước mùa hè đỏ lửa. Tôi tin rằng đọc sách là
một quá trình sáng tạo. Trong khi đối với người viết, tác phẩm là sự tự biểu đạt
và mong muốn sự đồng cảm ở người đọc, thì ở người đọc trong khi chia sẻ, cũng
tham gia vào quá trình sáng tạo ấy. Không phải chỉ là sản phẩm cuối cùng, tức
là văn bản trên trang sách, mà chính là quá trình viết một truyện ngắn hay tiểu
thuyết làm nên sự sống động của đời sống. Ngày 14 tháng 3 năm 1879, sinh Albert
Einstein. Được giải Nobel năm 1921 và chạy trốn khỏi nước Đức quốc xã năm 1933.
Lịch sử của lương tâm là lịch sử của lưu vong. Tháng 3 năm 2023, tôi về Hà Nội
dự ra mắt Thư gởi con trai, ngày 9, bởi nhà xuất bản Phụ nữ. Sau đó
một ngày, 10 tháng 3, tập thơ Thơ Buổi sáng, bởi nhà xuất bản Hội
Nhà văn. Hai sự kiện diễn ra ấm áp, trang nhã. Ngày 18 tháng 3, tôi vào Sài
Gòn, được mời ăn sáng với các anh chị Ý Nhi, Hoàng Dũng và các bạn khác, tại
đây tôi gặp nhà văn Hoàng Khởi Phong. Anh tặng tôi năm cuốn sách, trong đó
có Ngày N + nổi tiếng. Chúng tôi chưa gặp nhau bao giờ. Tôi ôm
lấy anh. Anh làm tôi nhớ đến một tháng ba khác. Ngày 10 tháng 3, 1975, Bắc quân
đánh vào Buôn Mê Thuột. Tây Nguyên rúng động. Tháng 10 năm 1974, Trung ương đảng
Lao động Việt Nam vạch kế hoạch tấn công trong hai năm 1975, 1976. Nhưng lúc
này, tháng 10 năm 1974, bộ trưởng quốc phòng Mỹ Schlesinger vẫn còn tin tưởng,
ông nói: Bắc Việt hiện nay không thể nào mở được một cuộc tấn công toàn diện
như hồi năm 1972. Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa đến nhanh hơn các bài toán về
tương quan lực lượng giữa hai phía, do những sai lầm chủ quan ngớ ngẩn của Sài
Gòn. Ngày 14 tháng 3, lệnh rút khỏi Tây Nguyên theo đường số 7 đã gây ra tình
trạng hỗn loạn. Ngày 29 tháng 4, tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh vùng II, Tây
nguyên, uống thuốc độc tự tử ở Sài Gòn. Ngày N+ viết:
“Từ ba tối nay tôi đã nhường ca bin cho hai em nhỏ bị sốt.
Tôi ngủ trên một cái võng làm bằng một cái vải bạt nhà binh, mắc giữa hai cản
xe. Tôi nằm quay đầu về con nước, trăng lồng lộng trên trời, phản chiếu lấp
lánh trên dòng nước chảy mạnh thành những vết sáng loang loáng. Từ lúc nghe tiếng
tiêu của người lính biệt động quân, tôi tỉnh táo vô cùng. Có tiếng khuấy nhẹ nước
đâu đây, có tiếng phụ nữ, tôi hướng về tiếng động, chừng ba chục thước trước mặt
tôi một cậu bé chừng mười tuổi đứng yên lặng trên bờ. Hai thiếu nữ nhô đầu khỏi
dòng nước, chắc chắn phải là thiếu nữ thanh tân, bởi tôi thấy rõ hai mái tóc
dài. Có lẽ cậu bé đứng canh chừng cho hai chị tắm. Chắc chắn họ phải rất trẻ, bởi
nếu không họ đã tắm ban ngày cùng với vợ con binh sĩ. Phải là thiếu nữ thanh
tân mới e thẹn như thế. Tôi đã được xem hình chụp bức họa Les Baigneuses nổi
danh thuở xưa, vô tình hôm nay tôi được chứng kiến những Baigneuses của thời
tao loạn, tắm giữa dòng nước thiên nhiên, dưới ánh trăng lồng lộng. Trước mặt
là những chốt của tử thần, sau lưng đường về nhà cũ đã hết.”
Đường về đã hết. Trong khi các chương trình AI mới mẻ nhất
có thể viết nhiều truyện ngắn và ca khúc hay hơn những nghệ sĩ kém thì cho đến
nay chúng không thể tạo ra cái khác lạ vì cái khác lạ đến từ tâm hồn, và tâm hồn
là căn cước duy nhất của con người, là cái còn lại cuối cùng sau khi chúng ta
đánh mất tất cả: mùi mồ hôi, máu, nỗi buồn, tim đập lỗi một nhịp. Vào lúc này,
không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Tôi nghĩ thế nào về AI? Tôi nghĩ AI ngày một
tiến bộ và gần như sẽ đuổi kịp con người. Vào lúc sắp đuổi kịp ấy, nó trở thành
nỗi sợ hãi. Khi đứng trước kẻ địch, con người có hai cách. Đầu hàng. Hoặc khuất
phục nó. Và trong trường hợp này, nhân loại đi một bước dài hơn cả mấy ngàn
năm. Họ sẽ biến AI thành người bạn của mình. Văn chương giúp cho con người sống
đẹp hơn, vui hơn. Tiếc rằng, cách dạy học trong nhà trường không làm cho trẻ em
có cảm nhận ấy, với chúng thơ văn là những bài học khó thuộc, khó hiểu, cũng
như lịch sử là mớ sự kiện nhàm chán mà mục đích cuối cùng là nhằm ca tụng một nền
chính trị, và những lời lẽ sáo mòn về tình yêu đất nước là vũ khí lợi hại nhất
để phá hủy tình yêu ấy ở trẻ con. Trong khi bày tỏ và truyền đi các cảm xúc của
con người, thơ mở rộng cái nhìn đối với thế giới. Từ Đông sang Tây, từ Sài Gòn
ra Hà Nội và ngược lại, ở đâu tôi cũng gặp những người tốt đẹp, bao dung nhiều
hơn những kẻ xấu xa, tị hiềm. Nhưng điều đó không ngăn cản thế giới của chúng
ta ngày một xấu đi. Những người đọc thơ và tiểu thuyết sống nhiều hơn một cuộc
đời và do đó họ tiếp cận với bản chất của con người nhiều hơn, sâu hơn những
người không đọc sách. Trước những chọn lựa khác nhau, đặc biệt là trước chọn lựa
giữa tự do và an toàn, giữa nhân phẩm và tiện nghi, những người đọc sách nhìn
thấy sự thách thức đầy quyến rũ, trong khi những người không đọc sách nhìn thấy
sự nguy hiểm và cảm thấy sợ hãi, sẵn sàng lùi bước. Thay vì đi tìm câu trả lời
cho những câu hỏi lớn, tôi bắt đầu với những câu trả lời rất nhỏ, cho công việc
của tôi mỗi ngày, cho những bổn phận mà tình yêu thường xuyên mang lại. Tại sao
chúng ta muốn đọc văn chương do con người viết mà không phải do AI viết? Tôi
nghĩ rằng chừng nào mà bạn còn muốn sống với một người vợ hay người chồng bằng
xương bằng thịt, chừng nào bạn còn muốn ngồi uống một tách trà trong sương sớm
với một người bạn bằng xương bằng thịt, chứ không phải một robot, thì bạn còn
muốn nghe tiếng nói thật của con người, hơi thở thật của một người. Văn học của
con người chính là tiếng nói ấy, hơi thở ấy, máu ấy, nước mắt ấy. AI không có
dĩ vãng, không có sự căm phẫn trước thói hèn hạ của người đời, không có máu và
nước mắt, không phải vì chúng không làm ra được những thứ ấy mà vì chúng không
cần những thứ ấy. Vũ trụ có thể tiến hóa mà không cần đến đau khổ. Nhưng con
người cần đau khổ để làm nên hạnh phúc, làm nên ý nghĩ của tồn tại.
Thơ không có một mục đích nào ngoài chính nó. Tháng ba là
tháng của âm nhạc, các lễ hội, trong những thị trấn nhỏ khắp các vùng quê ở Bắc
Mỹ, tôi chứng kiến trong những cuộc lái xe đường dài của mình các lễ hội cổ
truyền đáng yêu. Cuối tháng 2, đầu tháng 3, năm 2026, Hoa Kỳ và Israel oanh
kích Iran. Ngày xưa Iran gọi là Ba Tư, một đất nước của ngàn lẻ một đêm, của
huyền thoại, triết học và âm nhạc, của tôn giáo và thơ ca. Ngày xưa có một vị
vua Ba Tư, vốn là một người hiền lành, một kẻ trị vì anh minh. Do hoàng hậu ngoại
tình, vị vua đâm ra chán ghét tất cả đàn bà. Trong cơn thịnh nộ, mỗi ngày vua
cưới một thiếu nữ và sau đêm động phòng liền đem giết. Người dân lần lượt bỏ xứ
ra đi. Cô Sheherazade tình nguyện xin làm vợ một đêm của vua. Cô khéo léo kể những
câu chuyện hấp dẫn và ngừng lại vào lúc trời sắp sáng, lúc ấy nhà vua không thể
xử tử nàng vì muốn nghe tiếp hồi kết của câu chuyện. Sau hàng ngàn đêm, vua thấy
ấm lòng trở lại, từ bỏ thói tàn bạo, trở thành một nhà vua anh minh, lấy nàng
làm hoàng hậu. Nhưng Ba Tư cũng là đất nước của chiến tranh bạo loạn, nơi phát
triển những tôn giáo cực đoan và sự đi lầm đường của một thể chế mới đầu người
dân tưởng là cách mạng. Thực ra tất cả mọi cuộc cách mạng đều sẽ trở thành kẻ
phản bội của chính mình. Nha sĩ của tôi, một người gốc Iran, bảo rằng cô đã
khóc vì vui mừng khi nghe tin sắp có những thay đổi ở quê mình. Cuộc chiến
tranh Iran sẽ còn gây tranh cãi giữa can thiệp và độc lập: thế giới tự do cần
cho phép các tranh cãi ấy vì sự tiến bộ. Tháng ba, quê mình ra sao nhỉ? Trong
khu vườn ngày xưa của chúng ta, nhãn đã ra hoa, thơm ngát một vùng. Hoa chanh,
hoa bưởi giờ này đã tàn để trái đầu mùa bắt đầu kết trong trời đất. Ong bay rộn
ràng trên vồng hoa cải, bồ câu bắt đầu về trong cái chuồng mà cha tôi làm cuối
vườn. Tết qua, người nông dân vác cuốc ra đồng trở lại. Học sinh trở lại trường,
công chức vào nhiệm sở, nhưng buổi chiều khi cha tôi về tới nhà vẫn còn có dăm
người khách đến thăm như mùa xuân còn bát ngát đó đây. Những người đánh bài tới,
bài xì lác, bầu cua cá cọp đã giải tán mà hơi ấm của họ trên chiếc chiếu ngoài
sân vẫn đọng lại. Đã hết lễ hội tháng giêng mà qua tháng hai âm lịch, mẹ tôi
còn muốn đi xem tuồng, hát bội, đi coi bói gieo quẻ đầu năm. Bây giờ trời bắt đầu
nóng nhưng ở miền Trung quê tôi chưa nóng lắm như ở miền Nam, không lạnh như ở
miền Bắc, đất trời man mác, sự vật hãy còn mơ hồ, lạc thú ngày tết vẫn làm cho
lòng ấm lại. Nửa đêm đứa trẻ nằm xoay mặt, nhìn khuôn mặt của anh mình đang ngủ
vì hồi ấy hai anh em ngủ chung giường, đẹp như thiên thần. Tháng ba đất trời đã
thôi kỳ ảo, mà lòng người rộn ràng hơn nữa, mặt trời lên sớm, tươi hồng. Ở nhà
quê người ta ngủ ít mà dậy sớm, mở mắt chưa kịp nhìn trời thì bầy chim chìa
vôi, chích chòe đã kêu réo ầm ĩ. Cha tôi đun nước trong bếp pha trà, mẹ tôi lau
dọn chậu thau đồng, ly tách mâm bát dùng cho ngày tết, cất chúng vào kho chạn,
sai người làm cho heo ăn, mở cửa chuồng gà. Mùi trà sen thơm dọc hành lang bà
ngoại tôi. Cây đào tiên trước nhà bà, cao nhất trong xóm đã ra những quả bói đầu
tiên, ngọt, thơm phức. Cuộc sống nông dân pha trộn niềm tin Phật giáo, Lão
giáo, đạo thờ Mẫu, thờ ông bà, thờ Quan công là một hình thức văn hóa có tính nửa
bộ lạc nửa thời đại, miễn là đời sống đẹp như tranh, miễn là đêm đêm hoa lài
thơm vào tận giường ngủ. Yêu biết chừng nào. Nếu tình yêu của một người không
làm bạn cảm thấy an toàn, không làm cho bạn mở hết lòng ra, không làm cho bạn
trở nên quý cuộc đời này hơn, thì tình yêu ấy không có thật.
Tôi yêu cái đẹp khốc liệt Bắc Mỹ, sự hào phóng của gió, sự
tàn khốc của lửa, sự im lặng của sa mạc. Tôi nghĩ đến những người cao bồi Viễn
Tây năm xưa, những người đi tìm vàng, tôi nghĩ đến những người đi mở đất ở trên
mọi đất nước, cực khổ và nhục nhã, họ trả giá biết bao nhiêu cho sự sống, đã
lót đường cho chúng ta đi. Người tị nạn và di dân mới đến định cư ở châu Âu, ở
Bắc Mỹ, cần biết ơn họ. Rằm tháng giêng, rằm tháng hai, bạn bè rủ nhau mặc áo
dài, rủ nhau lên chùa, không khí trong chùa ấm áp, người ngồi chật các lối đi.
Đêm ra về, mùi hương khói thơm nức đường phố, tôi cầm trong tay đồng tiền mừng
tuổi của sư thầy, đút vào túi, đặt lên bàn làm việc, suốt một năm. Tháng ba,
tôi lái xe đi xuyên nước Mỹ, dọc biên giới phía Nam. Tôi dừng lại bên đường, hỏi
đường một nông dân, tuyết tan, đất được cày xới, hạt giống được gieo xuống.
Trong những thị trấn nhỏ ở Canada và Mỹ chỉ vài trăm người, giữa những cánh đồng
mênh mông, mùa trồng trọt đã bắt đầu. Tôi có hai quê hương, một là nơi tôi sinh
ra, hai là nơi tôi đến. Giờ đây hàng triệu người lang bạt trên thế giới đều
chia sẻ số phận ấy, nhân loại ngày một gần nhau, hay là ngày một xa nhau. Đôi
khi trời hừng sáng, mặt trời chưa lên, chỉ có một con chim gõ kiến dậy sớm kêu
inh ỏi góc vườn, từ đám mây bạc những người chết trở lại với chúng ta. Tôi nhìn
thấy họ, như tia sáng đầu tiên trên cỏ, như việc nhà sư bưng cái bát đi qua đường,
áo nâu sẫm, mặt nhẫn nại, bước đi chậm và nhỏ, trên một đất nước xa lạ, như đi
trên chính quê hương mình. Tôi vào bếp, nhen lửa , bắc ấm nước đầu ngày, nhìn
qua cửa sổ, nhà sư đi ngày càng xa, tôi nhìn thấy cuộc đời, tất cả cùng lúc, thấy
những căn nhà mà tôi đã sống, những người phụ nữ mà tôi đã yêu, những người đã
chết trong chiến tranh, thấy tình yêu rộng lớn của nhân gian. Nhiều năm rồi,
anh không biết tin em. Nhiều năm rồi em sống ra sao, hở má lúm đồng tiền?
Nhiều nhà triết học cổ đại tin rằng văn học là có hại khi tạo
ra những xúc cảm vô lý, xa rời phán đoán lý tính. Có người còn cho rằng văn học
là phi luân, chống tôn giáo, thậm chí đĩ thõa. Chúng ta tưởng rằng tình hình có
vẻ khá hơn. Bạn lầm. Người trẻ tuổi ngày nay không nguyền rủa thơ ca nhưng họ
có một cách khác hay hơn: họ không đọc nữa. Những thống kê liên tiếp gần đây
cho rằng tỉ lệ đọc sách đang giảm xuống. Có một khuynh hướng ngược lại, văn học
bắt đầu có ảnh hưởng to lớn đối với các ngàng khoa học. Năm tôi vào học y khoa,
điểm văn học được tính là một trong năm môn chính: toán giải tích, toán thống
kê, sinh hóa, vật lý, văn học. Văn học giúp người đọc khả năng vượt qua giới hạn,
sở hữu một khả năng tưởng tượng to lớn, có khả năng đặt họ vào vị trí của người
khác, yêu một xã hội phóng khoáng và căm ghét ba thứ: sự hành hạ con người, sự
tước đoạt tự do, thói tầm thường dung tục ở mỗi cá nhân. Một cuốn tiểu thuyết
xuất sắc làm cho bạn, khi đọc xong, đầy lòng biết ơn và hối hận. Tháng ba lòng
người ấm áp, có năm bắt đầu rất nóng, nhưng nhiều năm trời mát, giấc ngủ trong
chăn còn ngọt ngào. Tháng hai âm lịch, không khí hội hè chưa qua hẳn mà mùa hạ
đã tới đầu giàn mướp, hoa vàng đã rụng trái mới trĩu cành. Người đi xa ngàn dặm
ngoái lại, thấy sao mùa xuân ngắn quá, hộp mứt sen vẫn còn ăn chưa xong, nơi tụ
họp cuối cùng đã tan mà những bà bạn của mẹ tôi vẫn còn rủ nhau đánh bài tứ sắc,
bên ấm trà bốc mùi hoa mộc, nước mưa thanh khiết. Người đi xa trở mình trong giấc
ngủ, quay sang hỏi vợ:
Rằm tháng giêng đã qua chưa mình nhỉ?
Đã qua lâu rồi. Mà sao anh còn hỏi?
Thì tháng ba đôi khi vẫn còn lác đác mưa xuân, mênh mông hoa
đào chưa rụng hết, đường làng một người khách lạ đánh con ngựa thồ đi ngang lọc
cọc, mặc cho nắng chiều sắp tắt, người ấy ngẩn ngơ nhìn trời đất. Trong vườn
tôi ngày trước có những cây hạnh ra hoa muộn, sau tết nhiều ngày hoa vẫn phơi
phới nở. Ngày nay, có mấy ai biết ăn trái hạnh, đắng mà ngọt, to hơn cam mà nhỏ
hơn bưởi, bạn bóc bằng tay, lớp vỏ của nó dày, thơm nhiều ngày không hết. Tháng
ba đu đủ đầy cành, mãng cầu ngọt, ổi chín gấp gáp nhưng mít thì chưa rụng. Mới
một làng quê mà đã thế, thì những ngôi làng khác trên khắp quê hương mình biết
bao nhiêu là cái đẹp, thăm thú một đời không hết. Tháng ba cá giếc về từng bầy
trên sông, thịt ngọt mà thơm. Đôi khi một người bạn cũ của cha tôi đi bộ suốt
ngày đến thăm, mang theo mớ rau, con cá, xách theo con vịt trong cái lồng, mọi
người quây quần lại. Những lúc ấy hai người bạn già hứng chí, kể chuyện thời
kháng chiến chống Pháp, thời nam thanh nữ tú, mà những đứa trẻ như tôi cũng thấy
vui lây. Một lần tôi đi theo những người thợ rừng lên ngọn núi, đó là thời kỳ
trước khi những trận chiến nổ ra, ngồi bên bếp lửa của những người đi rừng, uống
ké một chén trà nóng, ăn thịt gà rừng, nhìn xuống dòng sông chảy lờ mờ phía dưới,
nhìn quanh một rừng mai nở trắng, nở muộn sau Tết, thấy quê hương đẹp như bức
tranh. Một nơi chốn chỉ trở thành quê hương khi có người viết về nó. Tôi thích
món ăn vùng quê, không mấy sang trọng, chỉ là món bình dân ít khi thấy bán ở tiệm,
như rau muống xào tỏi, gỏi sen, thịt kho trứng, cháo trắng ăn với cá cơm, bánh
tét chiên dòn sau Tết. Tháng giêng, tháng hai âm lịch, mùa này én bay về ríu
rít dưới những mái nhà. Chúng bay lượn dưới bầu trời xanh ngọc, rộn ràng náo nức
như niềm vui sống. Tôi chưa thấy một con vật nào lại rộn ràng như én, mau lẹ,
hoạt bát, yêu đời, mừng rỡ. Một người chán những chuyện đua tranh nơi trần thế,
thất vọng vì những mưu mô xảo quyệt, những âm mưu lật đổ và thống trị, bây giờ
lui về quê cũ, tâm lắng đọng mà bỗng một ngày xuân nhìn thấy én bay liệng như
thế, lòng không vui sao được. Tách trà nóng anh cầm trong tay cũng thấy thơm
lên, giọng người vợ hiền nghe ngọt ngào hơn, cuộc tranh luận trở nên không cần
thiết. Một chú bé mười một tuổi, thức giấc nửa đêm vì một con én bay vào phòng,
nó không tìm thấy lối ra, chú ngồi dậy mở toang cánh cửa, tiễn con én về trời,
mà lòng mơ tưởng được tự do như nó, đâu biết rằng những kẻ đi tìm tự do cũng có
số phận khốn khổ riêng mà những kẻ an nhàn không chia sẻ được.
