Đã có lúc, mỗi ngày của tôi là một mong chờ. Tôi chờ, tôi đợi những cái lạ, cái mới để từ đó có kỷ niệm mà viết lên sổ đời. Đợi một người bạn nay mai sẽ thành tri kỷ. Chờ một bóng nữ quyến rũ khiến tim cốt tả tơi. Đợi một chuyến đi. Chờ một cố sự làm đảo điên số phận. Tàu, xe đợi những vị khách còn con người thì đợi nhau, ai đó đến bên ta mà ở lại, dù chốc lát thì đều là sự an bài, run rủi của số phận. Làm trai phải lạ ở trên đời,[1] Phan Bội Châu viết với ý tung hoành bốn biển, thỏa chí tang bồng, còn với tôi, sinh ra với thân con người đã là sự lạ và cái lạ đó cần được nuôi lớn như tiểu thuyết chương hồi, mọi cái mình nghĩ, mọi thứ mình làm, thậm chí những người mình gặp, chơi cùng, gắn bó, thù hằn, nghỉ chơi… đều ảnh hưởng đến cuộc đời của mình và của người. Bản thảo Chí Phèo của Nam Cao từng là thứ được moi lại trong sọt rác, rồi nhiều năm sau, cũng trong một hộc rác, Mai Thảo móc lên bản thảo “Rượu, Chưa Đủ” của Dương Nghiễm Mậu. Đó là sự ngẫu nhiên hay một vòng lặp luân phiên của lịch sử, điều đã làm ở quá khứ sẽ tái hiện trong tương lai. Tôi từng rất ghiền truyện kiếm hiệp nên cả tin vào cái thuyết duyên kỳ ngộ, cứ đợi cứ chờ rồi sẽ gặp người làm thay đổi số phận. Sự mong ngóng được ủ sâu trong lòng ngày này qua ngày khác, cơn thèm một bóng hình chín tới mức nẫu nhừ, be bét vỡ tan bình ủ mà chẳng có ai. Quan hệ thầy trò, bè bạn bạc nhạc, người thân chiều chuộng, tử tế với tôi nhưng lại thiếu một tâm hồn đắt giá. Những phận đời long đong chỉ mong yên ổn qua ngày, kẻ gian tham lợi trước còn người ác tàn bạo theo cái bản tính tầm thường. Tôi thích một cá tính sâu sắc, nhiều lớp lang, nửa thánh nửa người nửa ma nửa phật, đã cao là vút trời, đã xuống thì phải thăm thẳm vô cùng. Có như vậy tôi mới nếm được lưỡi tầm sét để tỉnh thức mà nhìn lại và làm lại mình. Càng mong đợi càng đói khát, tôi thấy tiểu thuyết là thứ lừa người và chẳng có phép màu nào có thể giúp mình thành nhân vật trong sách, trừ khi mình viết sách, sống cùng các nhân vật, biến đời sống của mình thành tiểu thuyết. Ấy là khi tôi còn trẻ, tuổi thanh niên nhưng không suy nghĩ như vị thành niên.
Lại có lúc, cuộc sống buồn chán, tẻ nhạt nếu không làm cái
gì đó, và điều tôi luôn làm, nghĩ rằng phải làm, vào mọi lúc cả khi trước đến
bây giờ, là viết văn. Viết vì đó là công việc, viết vì thích, viết vì đam mê,
hoài bão, tham vọng thành cái gì đó, viết để xướng đời cái tên mình, viết vì
danh, vì lợi hay viết rồi đem đốt, viết cho cái nghiệp trời đày, viết hòng nói
ra tâm sự, viết để cùng suy tư, đối thoại với tưởng tượng… Nhiều đến muôn vàn
những lý thuyết về viết văn, và thường thì, ai cũng có một lý do, một nguồn cơn
cho nghiệp cầm bút. Chính tôi cũng từng khai khẩu đủ lý do. Nào là muốn thành
nhà văn lớn, muốn ẵm giải Nobel như cách nghĩ của Văn Sỹ Hộ. (Chỉ những nhà văn
kém cỏi, bất tài mới hão huyền về giải thưởng – Văn Sỹ Hộ cũng là tạng nhà văn
xoàng, ham danh hơn ham học.) Lúc có bài đăng báo, tôi cho mục đích viết là để
đăng nhiều hơn, có tiền có danh. Đến khi bài không còn được đăng, ý tưởng rối
bù, tắc tị thì tôi vơ lấy cái cớ hết tài, hết thời. Mỗi năm, tôi lại nghĩ ra một
lý do, trước là tự cật vấn mình, sau là để trình bày khi ai đó hỏi. Dần dà, cái
tôi viết khác với cái tôi nghĩ tôi muốn, không đâu đăng, không ai đọc và không
muốn gửi ai. Nhưng lúc gửi đăng tạp chí Da Màu, nhận được thư phản
hồi của Đặng Thơ Thơ tôi liền khoái chí, chẳng do bài được đăng mà bởi sự trao
đổi giữa người đọc với người viết qua tác phẩm. Rồi thì, tôi viết gửi Da
Màu để mong những lá thư thảo luận sự hay dở của tác phẩm, thế là tôi
tự phản tôi. Đăng mãi một trang, thư từ ngoài lề thưa dần làm tôi đâm chán. Tôi
bỏ viết, thấy trống rỗng, đau khổ không lý do, đành bất đắc dĩ cầm bút trở lại
và viết nhiều gấp bội lúc trước. Sểnh ra là viết, nghĩ gì, thấy gì là viết,
không khái niệm không diễn ngôn không mục đích. Chính giai đoạn nằm khuất trong
xứ vô hình đã đào thải hết mọi lý do và tôi luyện lại tôi. Viết chẳng cần căn
nguyên, tôi viết bởi tôi thích thế và thấy nhẹ nhõm mỗi khi đăm chiêu đến vỡ đầu
rồi diễn giải được lên giấy. Tôi thấy cái mình thiếu phải bổ sung, cái nào thừa
mứa lủng củng thì trục xuất, cái mình cần thêm thì phải chất thêm thật nhiều.
Viết văn lắm lúc như xuất hồn xuyên vào mê cung trong trái tim, tìm đường bằng
cách giải đủ loại mật mã hòng lục ra cái tôi nguyên bản. Cái thuở tôi vẫn trẻ,
dục vọng thiêu rực lá gan.
Cũng có lúc, tôi tưởng tôi đã chết, vong thân từ đứ đời, ai
đó đã nhân lúc xác tôi còn ấm nhập vào. Mỗi truyện tôi viết, mỗi câu, mỗi từ, mỗi
hình ảnh tôi dệt ra đều từ cái hồn, cái phách đang chiếm hữu thân thể tôi. Y là
ai? Một chàng trai, gã trung niên hay một ông già, kẻ đã chết nhưng chưa thỏa
nguyện thi phú nên mắc kẹt giữa trần gian? Y sống ở đâu? Thời trước hay thời
nay, chết tai nạn, chết đột tử, bị chặt đầu, voi dày ngựa xéo hay quẫn trí mà hủy
đời mình? Sự tiến bộ của tôi nào có phải tự thân mà do y cả. Y bảo sao là thân
xác tôi làm theo, như bị giật dây. Tôi mong một cuộc đối thoại giữa hồn với xác
như trong kịch của Lưu Quang Vũ, thay vì ông già giỏi cờ và anh đồ tể thì là một
sinh viên và một tinh phách mê mẩn văn chương. Tôi sẽ đứng thẳng nếu hồn là
chàng trai và sẽ cúi thấp trước một cụ già tóc trắng râu dài. Liệu sẽ có giao
kèo nào hay tôi sẽ phó mặc, trao cái thây này cho bậc kỳ tài. Hồi trung học,
lúc tôi viết tả cảnh, tả người thì người ta (đám con gái trong lớp, lớp tôi
chuyên văn, rất ít con trai) bảo tôi viết kiểu Thạch Lam. Đến lúc tôi tả cái vẹo
vọ, xấu ma của con người thì họ bảo tôi theo kiểu Nam Cao. Thế rồi, tôi lại viết
tạp nham, lúc chuyện chưởng, lúc thì như phóng sự điều tra, thứ được khen nhất
lại là thể loại tuyên truyền tố cáo cái ác, xiển dương người tốt. Thế mà sau
này tôi xổ toẹt tất thảy, viết những điều đến tôi cũng ngỡ ngàng, tôi càng tin
mình là kẻ chấp bút cho phần hồn lưu đọa không danh tính. Văn mỗi ngày một
quái, hỗn loạn và tăm tối như người điên khiến tôi càng háo hức một cuộc đối đầu,
đối thoại của hai linh hồn trong một thân xác. Gặp nhau kiểu thần tiên trong thế
giới sương mù hay gặp nhau trong bóng tối đều tốt cả, có đầy thứ để trao đổi và
tôi sẽ ngoan ngoãn bó gối ngước lên cái thân thế bí hiểm dù đó có như ma như quỷ,
hình hài hỗn mang nửa người nửa cá nửa thú nửa côn trùng. Cái gì điên loạn, khủng
khiếp nhất đã nhan nhản ngoài đời, cái gì ngớ ngẩn, rồ dại nhất thì chỉ có
trong văn chương. Và tôi tin, tôi quý vế thứ hai bởi văn chương dù nhá nhem, âm
u, đau đớn, khốn nạn và thuyết phục đến đâu vẫn là ảo cảnh. Mỗi người tìm đến
nghệ thuật cốt để hiểu về xúc cảm của tâm hồn, giá trị của tri thức chứ không
ai muốn tìm đến bi kịch rồi víu lấy đó, sống một đời đau thương. Từng có người
đọc sách của tôi do thích sự u ám, khó lường, đọc tìm cảm giác căng thẳng, thấy
chữ này hay, câu này lạ, nghĩa này mới chứ không cần hiểu, thế là đã sai với ý
muốn của tôi, sai cả với linh hồn xuyên rễ trong tôi. Rồi thì tôi lơ đi, mặc
xác bởi thân thế xác mình hồn ai thì không có quyền phán định. Cứ thế, tôi mải
mê nghĩ vậy. Giai đoạn tôi sắp hết tuổi trẻ, khuôn mặt tôi trẻ măng như học
trò.
Rồi có lúc, tôi sống trong cảnh vừa sợ vừa háo hức. Sợ vì mỗi
khi ngủ dậy, đời sống vẫn lạc quẻ, một ngày như mọi ngày, không nghề ngỗng,
không tiền không bạc, không bạn bè. Đến một bóng người thương (theo cả hai
nghĩa, tôi yêu và yêu tôi) cũng lạnh lùng trăng gió tha hương (thơ
Đinh Hùng). Làm nghề gì cũng sai, cũng hỏng, bị bắt đền, đuổi khéo. Trái nghề
đã vậy, đến nghề thuận là viết văn cũng có tiếng mà không có miếng. Sợ ra
ngoài, sợ giao tiếp, sợ con người, tôi sợ đủ thứ, sợ cả việc đi ngủ thức dậy lại
đối diện với muôn nỗi sợ bủa vây. Mỗi ngày chỉ háo hức khi tôi ngồi vào bàn, viết
cái gì đó, hoặc theo dàn ý thảo sẵn trong đầu hoặc chẳng có kế hoạch nào hết,
nghĩ gì viết đấy, vừa viết vừa nghĩ, miễn là tạc thù được một dòng, một câu, một
hình ảnh là đã có nét phác quan yếu cho bức tranh. Tôi mắc chứng dao động mỗi
khi đọc sách. Hễ đọc được câu nào, trang nào mang tính suy nghiệm là não tôi nở
ra đủ thứ quái lạ. Cũng là văn của người ta, nhưng nó bị nhào nặn, thêm câu, đổi
chữ, biến tướng thành văn dạng khác. Ví như lúc tôi đọc đến đoạn “mình
phải tiến lên thôi. Dù không hiểu gì hết cũng phải cử động thân mình mà tiến
lên không ngừng, dù chỉ năm ly. Nếu như anh chỉ cần thử khoanh tay, cúi đầu xuống
đứng lặng mơ màng hay thử phó mặc thân mình cho nỗi hoài nghi và sự lười biếng
dù chỉ một khoảnh khắc thôi thì ngay lập tức, sẽ bị gõ búa vào đầu” trong
truyện ngắn “Một Chuyến Đi” của Dazai Osamu thì tôi gấp tạm phần còn lại cuốn
sách rồi ngồi vào bàn, gõ ra truyện “Kẻ Không Nương Náu” trong nhiều tuần. Mọi
thứ như có sẵn, dọn sẵn trong đầu chỉ đợi tôi miệt mài lao theo dòng thác. Mãi
sau này, tôi đọc nốt truyện của Dazai, thấy giữa bản gốc và bản tôi vôi ve ra
thật xa lạ. Sự dao động khiến tôi không đọc hết sách nên vô tình cứu tôi khỏi
án đạo văn. Quá trình viết dù viết nháp viết chơi cũng làm tôi quên đi mọi nỗi
sợ để đương đầu với nỗi sợ khác lớn hơn và dễ đối mặt hơn: Phải làm gì để lấp đầy
từng trang giấy. Háo hức xong, dừng lại vì mệt thì lại sợ, rồi từ nỗi sợ tôi bắt
buộc phải viết. Vì sợ mà viết, lấy hành động viết để chạy trốn nỗi sợ, hai cực
cảm xúc luôn đối chọi, phân tranh vô tình là vùng đất màu mỡ giúp tôi luyện
văn. Đến bây giờ thì tôi không thiết mớ lý thuyết viết cho ai, viết để làm gì,
tôi viết như đó là lý do tôi có mặt trên đời. Không có ai bên cạnh, không có
giao hảo để đời, cuộc đời tôi phân rã như đường chỉ tay của tôi, đường nào cũng
dài cũng mờ, nét cuối tưởng là cắt vào nhau nhưng phần chân quá nhạt như biến mất,
khác gì mới đính hôn đã đột tử, tôi chỉ vớ được cảm giác gắn bó qua văn chương,
tôi có nên mang ơn điều đó? Trời ném tôi xuống đây, bắt tôi phải cô liêu cùng
cái họa vô danh tính để tôi kiên trì làm văn sạch, viết cho chó tha quạ mổ hoặc
chó chẳng thèm tha quạ không thèm rỉa, viết cho đui thân, nát đời, viết cho
thân nhân đi hết, bạn bè xa lánh, ái tình đuổi xua, xã hội ruồng bỏ, viết cho
thân tàn ma dại, ở cõi này sống cõi khác, vượt qua ngần đó ải may ra mới lãi
chút hậu phúc. Ai đó, cái gì đó trong tôi mách bảo vậy hoặc tôi tự họa rồi cố
tin là thế, ấy là khi tôi trắng sạch thanh xuân, bước sang trung niên.
Và có lúc, mỗi ngày đắt ở cái chớp qua, nhoáng lại, trong một
tích tắc, một sát na. Là khi tôi đi qua phố Hàng Bài nhìn đám trẻ con vui đùa,
thấy gương mặt non nớt của mình trong lũ trẻ, da dẻ tụi nhỏ trắng bóc, nữ thì
mươn mướt, nam thì sáng sủa, có đứa nổi mụn, trứng cá, giọng vỡ ồm ồm, đứa nào
gọi tôi là anh thì tôi thấy hỗn, còn thưa tôi là chú thì tôi thấy mình già, thế
rồi ngẩn ngơ, liu diu hình ảnh đứa trẻ tôi và cô bạn tên Nhung thường mỉm cười
gọi tôi mỗi khi đạp xe qua. Là khi tôi đi dạo mùng 1 tết, đường phố lác đác vài
bóng người, đìu hiu như mấy chiếc lá khô trên mặt đất, rồi dặt dìu mùa
xuân theo én về / người mẹ nhìn đàn con nay đã về, giọng Thanh Thúy
văng vẳng bên ô cửa nhàu nát của khu nhà cũ phố Trần Quốc Toản, tiếng nhạc rất
nhỏ, rất khẽ phải rũ hết tạp âm mới nghe được. Tôi chững lại chốc lát, vừa đi vừa
thì thầm câu hát. Đi hết tuyến phố, xa khỏi khung cửa trong đầu vẫn ơi ới lời
ca, hệt như bản nhạc đánh thức trí nhớ những đêm ròng nghe Văn Cao, não bộ cứ
thế chạy đi chạy lại bản nhạc, tôi vừa đi vừa thầm thì hát. Ngậm ngùi, tôi nghĩ
Văn Cao đã thác từ bao giờ, giai thoại Văn Cao tuổi già trong túi không có nổi
5 đồng để ăn cháo, chẳng ai biết ai nhớ (qua lời kể của Phùng Quán) vẫn còn đó,
hôi hổi đến đau lòng. Lại ngậm ngùi, nhớ bản “Ly Rượu Mừng” của Phạm Đình
Chương, bài hát kể từ khi biết đến tôi luôn nghe đêm giao thừa thay cho tiếng
pháo, và phải đúng giọng hợp ca của ban nhạc Thăng Long. Chẳng biết do cả nghĩ
mà nỗi nhớ tôi bung beng như đàn chim chạy tiếng súng, hết nhớ người lữ khách
đêm đông không nhà, lại nhớ Thạch Lam băm sáu phố phường, nhớ bữa rượu đầu lâu
của Nguyễn Tuân, nhớ cả lòng mình là hương cốm, chả biết tay ai làm lá
sen – những người khi tôi ra đời đã lỡ mất một cuộc hầu. Lại khi tôi
hay tin Thái Thanh qua đời, mới hôm qua tôi còn nghe “Ngày xưa Hoàng Thị,”
“Ngàn Thu Áo Tím,” “Trả Lại Em Yêu”… cảm giác nôn nao, nức nở thoắt qua, chặt rời
lồng ngực, trong đầu vọng lại giọng hát cao vút như lên ngàn dù tôi cố không
nghĩ đến. Tôi chẳng dám mở lại nhạc Thái Thanh hay ai khác hát nhạc Phạm Duy.
Tôi xuống nhà, ngồi ở vỉa hè 24 Bà Triệu, chỉ kịp gọi một ly café, châm điếu
thuốc, đánh tin cho cô ấy hay Thái Thanh đã về trời. Lại thêm một thoáng hắt
qua phá bung trí nhớ, ký ức lũ lượt kéo về, chồng chéo, ngổn ngang chẳng đâu
vào đâu. Kỷ niệm của tôi với Thái Thanh là những lần nghe file nhạc trên máy
tính, có bài tôi nghe đi nghe lại hàng tiếng đồng hồ. Chưa gặp, không giao
tình, thế mà tôi vẫn ngẩn ngơ cả ngày. Có bữa, đọc bài viết của Don Hồ thăm mộ
Ngọc Lan, tôi cũng thẩn thơ, bồn chồn mãi, phải viết truyện “Phấn Di” lòng mới
mềm lại. Một hôm khác, tôi nghe “The Four Seasons” của Vilvaldi nửa chừng thì
lim dim ngủ, mơ thấy hôm đi tiếp khách ở phòng 303 trong khách sạn xóm Hạ Hồi,
lúc xuống có con chó trắng to như con gấu chạy đến vẫy đuôi. Tôi sợ mấy con vật
to lớn nên đứng lùi lại. Bà khách bảo con chó rất hiền, rồi xoa đầu. Con chó dựng
đuôi vẫy vẫy. Lạ là trong giấc mơ tua lại quá khứ tôi thoáng thấy con chó từ từ
đứng lên và biến thành một ông già tóc trắng. Tôi giật mình trong mơ, tỉnh giấc
cũng bằng cái giật mình kéo sập mộng mị. Tình tiết hóa hình trong mơ bám lấy
tôi, vừa ghê vừa mê vừa khoái thú. Tôi không muốn khai triển theo thể loại biến
thân nữa vì Kafka quá. Viết huyễn ảo, ma thuật mãi cũng nhàm nên tôi phác thảo
chuyện về một người đàn ông sống một mình, ngày ngày nghe bản “Winter” của
Vivaldi, mỗi lần ra cửa là gặp một đứa bé và cho kẹo. Cốt truyện chỉ có vậy,
anh chàng chỉ nằm, ngồi, đứng nghe bản “Winter” và gặp đứa nhỏ. Kết truyện, anh
ta xuống nhà vào buối tối, trên tầng vẫn vang vang bản “Winter.” Hôm đó mùa
đông, trời lạnh, thở ra khói, anh ta gặp một thiếu nữ, gọi mình là chú, bảo
ngày nhỏ anh hay cho kẹo. Cô gái chào anh rồi lên xe về nhà chồng. Anh ta sững
người, sờ mặt, vuốt tóc làm rụng một sợi bạc. Anh thở ra khói. Dòng cuối
ghi Đông lạnh hơn hay vốn thế. Trong thời gian ủ truyện, tôi
thấy đây là một truyện ngắn trung bình, kém hấp dẫn đã đành lại khó viết nên được
nửa trang là chây ì. Mãi sau này Tạ Duy Anh đốc thúc tôi hoàn thiện một tập
truyện thật hay thật xuất sắc để ông tìm cách in mà không mất tiền. Tôi có chút
hứng nhưng không muốn lóc truyện của tập khác ghép vào tập mới nên lọ mọ viết
bài mới. Vốn đang có 5, 6 bài tốt rồi, chỉ cần viết thêm vài bài là đủ. Trong
lúc nghĩ ngợi, lục lọi file Nháp xem có gì hay không thì tôi nhìn thấy cái bài
ngày trước. Lần này tôi viết lại, đổi bối cảnh và đặt tên là “Mưa Xuyên.” Bởi
cái lõi khó triển khai, thiếu sức hút, viết lơ mơ, vụng dù nửa đoạn là coi như
vứt hết nên tôi phải viết cố. Lại phải cố trong nghiêm túc nên rất mệt, được chục
trang thì nản, bỏ ngang coi như xong rồi. Tạ Duy Anh lại giục mà bài vở thì
chưa đủ. Tôi còn thiếu đúng một bài, chưa nghĩ ra truyện mới, cũng không muốn
xé bản thảo cũ vá vào. Tôi nhớ đến một người và bức ảnh người đó chụp trong chiếc
áo hoa. Thế là tôi lục lại, hơi sợ vì mỗi lần nhìn ảnh là tim lại rổn rảng. Và
rồi, trong thoáng ngất ngư, trong tôi lóe lên hình bóng của một người nữ sẽ
xuyên suốt tuyến truyện. Khác với những truyện trước, tôi viết tiếp “Mưa Xuyên”
mà không có dự định, toan tính gì, vừa viết vừa nghĩ, có khi không kịp nghĩ, phải
đuổi theo nguồn sáng tạo như tình cảnh của kẻ lạc lối dò dẫm trong rừng sâu. Viết
đến giữa truyện thì tôi ngừng, đọc lại, cảm thấy chưa xong được, cần rẽ sang hướng
khác. Thế mà chưa yên, có một cuộc hội thoại khiến tôi nghĩ lại, phải sửa từ đầu,
thêm cái này bỏ cái kia rồi chuyển sang hướng khó hơn. Cũng là viết cố nhưng là
cố đi xem đến được đâu, mãi mới xong, một truyện ngắn đa tầng có độ dài bằng nửa
tiểu thuyết. Từ hình ảnh con chó trắng ngoài đời lặp lại trong mơ rồi một bản
nháp không tên cho đến “Mưa Xuyên,” đều từ một cái thoắt qua để lại tàn ảnh, quả
là một hành trình dai dẳng đầy lý thú. Tuổi càng lên thì cái sự chớp nhoáng
ngày mỗi nhiều, thậm chí ngoài sáng tác tôi còn sa đà vào ghi chép, tạp bút như
với cuốn sách này, viết về người mình từng gặp, đã gặp và chưa gặp, viết trong
đầu, trên giấy về mọi thứ lóe qua, từ hòn sỏi, viên đá, ánh nắng, khói và mây,
bóng và hình, người đã qua và người còn ở. Đó có phải tình trạng sống khước từ
hiện thực, ăn vạ vào ký ức, sống đời nghệ thuật viển vông không góp gì cho đời,
là tồn tại qua ngày chứ không phải sống? Nhưng dù là tồn tại hay sống thì kiểu
sống này đem lại cảm xúc và năng lượng cho tôi. Mỗi năm mỗi tháng mỗi ngày mỗi
khoảnh khắc luôn có thứ để mong chờ, dù buồn nhiều hơn vui, chua xót nhiều hơn
hoan hỉ và thà là thế còn hơn máy móc muôn người như một, vùi thân trong nỗi lo
trần tục. Sống theo lẽ thường hay sống theo tâm hồn cũng là sống. Rimbaud từng
sống như vậy, Bích Khê cũng sống một đời thần linh, và tôi cũng xin phép trọn đời
trên thiên tự sơn. Tôi đã 37, cái tuổi đã dừ, già đi từng tháng xấu đi từng
ngày, chẳng dám mong cầu bóng hồng nhan, ai biết được điều gì đang đợi đang
rình quật mình phía trước. Sống, mỗi ngày vớ được một ánh qua, rồi tủm tỉm,
nghĩ ngợi cả ngày đã là quý hóa.
Chú thích
