Cuối thập niên 80, tôi đem bản dịch mười truyện ngắn và đoản văn của Franz Kafka đến giao cho người biên tập đã giúp bản dịch Thẩm phán và đao phủ (Friedrich Dürrenmatt) của tôi ra mắt ở NXB Văn học. Ông lắc đầu, không in được, nhưng cứ để đây, biết đâu.
“Biết đâu”, tôi thường giễu hai chữ ấy, tôi chán ngấy những
người vừa bấu víu vào những hy vọng mơ hồ vừa vồ ngay cơ hội bỏ cuộc khi còn
chưa bắt đầu, những cái “biết đâu” của họ dồn lại đủ để nhân loại này chỉ còn bận
phòng xa và nghĩ ngắn. Tôi thiếu đức kiên nhẫn cho nghệ thuật dò dẫm ấy. Song ở
Hà Nội những năm chập chững Đổi mới, lịch sử không nằm trong tay tôi và trong
hình dung của bất kỳ ai. Trong những lớp vỏ diễn giải bọc kín các tác phẩm của
Kafka mà Susan Sontag ví như một cuộc hãm hiếp đại trà của ít nhất ba đạo quân,
cách soi của các nhà lãnh đạo văn hóa cộng sản có lẽ đứng đầu về độ bí ẩn.
Không ai rõ Kafka phạm tội gì, chỉ biết là toàn bộ khối Sô-viết đều cảnh giác
cao độ trước những trang viết nằm ngoài mọi dụng ý chính trị, để ngỏ mọi cách đọc,
của nhà văn đã thành thần tượng của thần tượng ở phương Tây ấy. Phản động suy đồi,
xa rời quần chúng, chống phá cách mạng…, những công thức kết án mọi sản phẩm
văn hóa khác lập trường vô sản và đường lối hiện thực xã hội chủ nghĩa như vậy
vận vào đâu cũng được, song với các nhà tư tưởng mác-xít, điều khó thương nhất ở
Kafka là những ẩn dụ lạ lùng, không thể cắt nghĩa bằng học thuyết Mác-Lê. Bất
chấp lời kêu gọi giải giáp hai chiến tuyến văn hóa của triết gia cánh tả
Jean-Paul Sartre ở Mạc Tư Khoa, Kafka tiếp tục là một quả lựu đạn trong thư viện,
khái niệm kafkaesque là mìn, và Vụ án của ông
– mở đầu ngắn gọn, rằng một buổi sáng, nhân vật chính chẳng biết mình mắc tội
gì mà bị bắt, chắc phải có ai vu khống, và kết thúc bằng vụ hành quyết nhân vật
ấy, nhục nhã, như với một con chó – là một ngòi nổ ý thức hệ. Biết bao nhân vật
như thế ở các quốc gia chuyên chế, nơi “Tất cả chúng ta đều bị theo dõi /Tất
cả chúng ta sắp bị bắt rồi”(Hoàng Nhuận Cầm), khiến Kafka thành một nhà văn
hiện thực phê phán ngoài dự định.
Rồi tình huống ad hoc ấy bỗng chấm dứt.
Kafka bỗng được xuất bản ở Việt Nam, thậm chí tràn lan, như thể một buổi sáng,
vẫn nhân vật chính ấy, chẳng làm điều gì hay hớm mà được khen thưởng, chắc phải
có ai vặn lại đồng hồ luật pháp. Song người Việt sinh tồn nhờ thực dụng, phi lý
hay hợp lý không quan trọng, miễn là sống được. Tư tưởng Mác-Lê cứ việc ngồi
trong Điều 4 Hiến pháp, như hương khói hờ trên bàn thờ ảo của một chủ nghĩa cộng
sản zombie, miễn là Đảng sống khỏe.
Bản dịch viết tay trên giấy xấu của tôi ở phòng chờ “biết
đâu” khi ấy, bản duy nhất, cố nhiên thất lạc, trước khi Kafka bán thua xa Kafka
bên bờ biển trong tiếng Việt, trước khi ở Tiệp ông trở thành thương hiệu
xú-vơ-nia ngang với bia, trước khi thiên hạ nhại Gregor Samsa, hóa thân hàng
triệu lần mỗi sớm mai trên TikTok thành bất kỳ con gì cái gì, miễn là clickbait,
quăng được mồi nhấp chuột, và trước khi AI trong chớp mắt cung cấp một bản dịch
dùng được mà tôi mất cả tuần không xong. Tôi chỉ tiếc những bản thảo ấy ở chỗ
đã đánh mất dấu vết những khiếm khuyết của mình thời ấy. Khi dịch lại dụ ngôn
sau đây, Trước luật pháp, áng văn cốt lõi trong trước tác của
Kafka, một trong những cảnh trọng yếu của Vụ án, ở mỗi từ, mỗi câu
tôi đều tự hỏi, gần 40 năm trước mình đã diễn đạt thế nào. Điều duy nhất tôi
còn nhớ là khi ấy tôi đã dịch nhan đề Vor dem Gesetz là Trước
pháp luật mà không hề phân vân. Bây giờ tôi dịch là Trước luật
pháp, vì cảm giác ngôn ngữ của tôi đã thay đổi. Kafka không trừu tượng,
luôn nguyên sơ, sáng rõ, giản dị. Luật pháp bình dị hơn pháp
luật trong thực tế ngôn ngữ, dù chúng ta dùng xuôi ngược cả hai, tuân
thủ luật pháp và chấp hành pháp luật, thực hiện
pháp luật và thực thi luật pháp, bước qua luật
pháp và vi phạm pháp luật, cải cách pháp luật và cải
tổ luật pháp, còn Wikipedia tiếng Việt thì không có mục “Pháp luật”, chỉ có
“Luật pháp”, và tại đây lại chỉ nói đến pháp luật. Song dịch thế nào thì tôi hy
vọng vẫn tái hiện được cả hai phía: một bên là con người nhỏ bé, thụ động, thậm
chí hèn hạ, bất lực, một bên là quyền uy lạnh lùng, tàn nhẫn, khép kín, không
thể tiếp cận.
Biết đâu dụ ngôn này lại khiến các cán bộ gác cửa kiểm duyệt
ở Việt Nam chột dạ, song biết đâu không phải Kafka mà Kafka bên bờ biển bị
lây vạ, chẳng biết mình mắc tội gì mà bị đòn.
***
Franz Kafka: Trước luật pháp
Trước luật pháp có một chân gác cửa. Một người đàn ông từ
thôn quê lên, xin gác cửa cho bước vào luật pháp. Nhưng gác cửa bảo, bây giờ
chưa được. Người kia nghĩ ngợi rồi hỏi, vậy lúc khác có được không. “Có thể”,
gác cửa đáp, “nhưng lúc này thì không”. Cửa vào luật pháp vẫn mở như thường lệ
và gác cửa bước sang một bên, nên người kia khom lưng để nhòm qua cửa vào bên
trong. Gác cửa thấy vậy, cười bảo: “Tôi cấm đấy, thích thì cứ thử mà vào. Nhưng
phải nhớ: quyền hành là ở tôi. Mà tôi chỉ là chân gác cửa quèn nhất. Từ gian
này đến gian khác, càng vào sâu gác cửa càng uy quyền. Mới đến gác cửa ở vòng
ba là cả tôi đây cũng hết hồn.” Người kia không ngờ lại khó như vậy; luật pháp
phải rộng mở cho mọi người và mọi lúc chứ, ông nghĩ, nhưng bây giờ nhìn kĩ gác
cửa, áo choàng lông, mũi to nhọn, bộ râu kiểu Tatar đen, thưa, dài, ông quyết định
chờ đến lúc được phép vào thì tốt hơn. Gác cửa đưa cho ông một chiếc ghế đẩu và
để ông ngồi ở mé cửa. Ông ngồi đó, ngày qua ngày, năm qua năm. Nhiều lần ông
tìm cách xin vào và năn nỉ khiến gác cửa phát mệt. Lắm lúc gác cửa bày trò lục
vấn, hỏi ông đôi chút về quê quán và nhiều thứ khác, nhưng hờ hững như kiểu bề
trên thường hỏi, và rốt cuộc vẫn bảo chưa cho ông vào được. Khá nhiều đồ dùng
đem theo cho chuyến đi, cả những vật quý giá, ông dốc sạch để mua chuộc gác cửa.
Gác cửa nhận hết, nhưng lần nào cũng bảo: “Tôi chỉ nhận để ông khỏi băn khoăn
là đã bỏ sót một cơ hội.” Suốt bao nhiêu năm, ông gần như không rời mắt khỏi
gác cửa. Các gác cửa khác, ông quên hết, như thể trở ngại duy nhất, cản đường
vào luật pháp, là gác cửa đầu tiên này. Ông nguyền rủa sự ngẫu nhiên bất hạnh ấy,
những năm đầu còn ồn ào và lấn tới, sau già dần, chỉ còn lầm bầm trong miệng.
Ông thành ra trẻ mỏ, và vì quen mặt cả những con bọ chét trong cổ áo lông của
gác cửa suốt bao nhiêu năm quan sát, ông cũng nhờ chúng giúp ông làm gác cửa
xiêu lòng. Rồi mắt ông kém dần, và ông không biết trời quả thực đã tối hay chỉ
là mắt ông đánh lừa. Song bây giờ, trong bóng tối, ông nhận ra một hào quang
không thể xóa nhòa tỏa ra từ cửa luật pháp. Nhưng ông không sống được bao lâu nữa.
Lúc hấp hối, mọi kinh nghiệm của toàn bộ những tháng năm ròng rã đọng trong đầu
ông thành một câu hỏi mà ông chưa từng nêu ra với gác cửa. Ông ngoắc gã lại gần,
vì không còn đủ sức nhấc tấm thân đã đơ lạnh. Gác cửa phải cúi thấp xuống, bởi
chênh lệch chiều cao giữa hai bên đã thay đổi, rất bất lợi cho người phía kia.
“Bây giờ ông còn muốn biết gì nữa nào?”, gã hỏi, “ông thật là vô độ.” “Mọi người
đều khao khát luật pháp”, ông nói, “nhưng sao ngoài tôi ra, bao nhiêu năm chẳng
thấy ai khác đến đây xin vào?” Gác cửa thấy ông sắp chết đến nơi, và, gã quát lớn,
vì tai ông đã ù đặc: “Người khác không được vào đây, vì cửa này chỉ dành cho
ông. Bây giờ thì tôi ra đóng lại.”
