Cái bàn gỗ do ông nội đóng (Thuỷ Như)
Lần đầu tiên anh đưa tôi về chào thăm ba mẹ anh, tôi thật ấn tượng với cách bài trí trong nhà. Từ phòng khách tới phòng ăn, từ nhà bếp đến phòng quilt của mẹ anh. Đơn giản, thoáng và đẹp hài hoà. Ngày ấy tôi cũng còn mới mẻ với nước Mỹ và vừa mới thoát khỏi trợ cấp của nhà nước nên chẳng biết những món đồ nội thất ấy mắc hay rẻ. Tôi chỉ thấy khác hẳn với những nhà Việt nam tôi được đến thăm. Dầu vậy khi vào thăm phòng của anh, tôi thấy có một bàn viết nhỏ cũ kỹ chẳng xứng hợp với những bàn ghế và vật trang trí trong nhà. Thấy tôi nhìn cái bàn rồi nhìn những vật trang trí trong phòng, anh giải thích. “Đây là kỷ vật của ông nội anh để lại. Ông đóng cái bàn này trong trại tập trung. Anh chỉ đánh bóng lại một tí thôi.” Tôi ngạc nhiên: “Trại tập trung?” Anh gật đầu: “Trại tập trung Manzanar. Hy vọng có ngày chúng ta sẽ đến thăm.” Tôi thêm vào: “Ba em cũng bị giam trong trại tập trung cuả cộng sản Việt nam bảy năm.” Và tôi nói thầm trong đầu: “Nhưng chắc mình sẽ không bao giờ trở lại ghé thăm.” Sau đó chúng tôi nên vợ chồng và tôi được nghe kể về câu chuyện di cư đến nước Mỹ phía bên nội của chồng tôi.
Ông bà nội và ngoại của ông gia tôi di cư từ Nhật sang Mỹ
vào cuối những năm 1890. Họ chăm chỉ làm ăn nên đến 1942 họ có một nhà
hàng khách sạn nhỏ và một tiệm bán trái cây ở phố Nhật, Los Angeles. Rồi
chiến tranh bùng nổ. Ngày 7 tháng 12, 1941 Nhật thả bom Trân Châu cảng ở
Hawaii. Thế là tháng 2, 1942 tổng thống Roosevelt ký sắc lệnh bắt những
người có gốc Nhật phải vào ở các trại tập trung nằm hầu hết ở miền tây Hoa Kỳ.
Gần 120,000 người Nhật bị dồn vào 10 trại tập trung ở các tiểu bang California,
Idaho, Utah, Arkansas, Colorado, Wyoming and Arizona. Khoảng 66% số người
này có quốc tịch Mỹ. Hai bà cố và ông bà nội của anh cùng ba người con là
cô hai, ba của anh, và cô út ở trong số những người này. Gia đình họ
không kịp bán cơ sở kinh doanh nên phải đóng cửa nhà hàng, khách sạn, tiệm buôn
và gởi nhà cho hàng xóm lên xe nhà nước tiến về Manzanar, hướng bắc California.
Lệnh bắt buộc những người gốc Nhật vào trại tập
trung và tấm bản của một chủ tiệm gốc Nhật bị đóng cửa.(Hình Thuỷ Như chụp từ
viện bảo tàng Manzanar)
Theo sắc lệnh mỗi gia đình chỉ được đem hai vali đồ dùng cá
nhân và tư trang tập trung tại hội đồng mỗi thành phố từ ngày 6 – 7 tháng 5,
1942. Xe của chính phủ sẽ chở họ đến các trại tập trung. Họ đến Manzanar
lúc trại mới vừa dựng lên nên rất thô sơ và thiếu thốn mọi thứ. Trại Manzanar
là trại tập trung giam người Nhật đầu tiên. Đa số tù nhân là từ Los
Angeles. Sau đó, các trại khác lần lượt mở ra để giam các người Nhật từ
khắp lãnh thổ Hoa kỳ. Cả Canada cũng có trại giam giữ những người gốc Nhật
thời gian đó. Trại Manzanar nằm trong thung lũng Owen, dưới chân dãy núi Sierra
Nevada cách Los Angeles khoảng 230 dặm về phía bắc. Trong một chu vi khoảng
6000 mẫu Anh, gần mười ngàn người gốc Nhật ở trong 504 barracks chia thành 36
blocks. Mùa hè có khi nóng đến 110ºF và mùa đông thì các ngọn núi chung quanh
phủ đầy tuyết làm khí hậu lạnh băng.
Gia đình ông bà của anh được ở chung trong một barrack (trại)
cùng với một vài gia đình khác. Những người bà con của gia đình từ San
Dieogo thì ở cách đó một block (khu, khối nhà). Chung quanh trại là những
hàng rào kẽm gai với những lính canh sẵn sàng nhả đạn vào những người toan trốn
trại. Những barrack lợp bằng giấy dầu nên ở trong nhà thì nóng bức trong
mùa hè và lạnh giá trong mùa đông. Mỗi barrack có một bếp dầu, một
bóng đèn, những chiếc giường nhỏ kê sát nhau được lót nệm làm bằng rơm và mền
là những miếng vải thô. Nhiều gia đình ở chung một barrack nên họ dùng
các tấm vải của họ đem theo để che các giường ngủ. Khỏi phải nói những
người Nhật lúc đó thất vọng đến dường nào. Rất nhiều người Nhật thời bấy
giờ là những người thành công về nhiều lãnh vực khác nhau. Họ là những
thương gia như gia đình ông bà nội của anh, rồi những bác sỹ, kỹ sư, kiến trúc
sư, các công chức nhà nước và cả những chiến binh đã phục vụ trong quân đội Hoa
kỳ trong thế chiến thứ nhất … Tất cả phải rời bỏ nhà cửa và cơ sở làm ăn
để đi đến trại tập trung theo lệnh chính phủ Hoa Kỳ. Điều đặc biệt là
không một người gốc Nhật nào cố trốn tránh lệnh này. Có những người tự đến
trại Manzanar bằng những chiếc xe hơi đắt tiền của họ. Một người trong
dòng họ của anh xin gia nhập lính nhưng bị từ chối, bắt phải trở về để đến một
trại tập trung. Chỉ có những người gốc Nhật đang ở trong quân ngũ (như một
người bà con khác của bà nội anh) thì không phải vào trại tập trung.
Một
barrack (tái tạo) tại Manzanar (Thuỷ Như)
Người Nhật giỏi làm nông nhưng cũng phải chịu thua vùng đất
cằn cỗi Manzanar. Đất đai sỏi đá khó trồng được các loại nông phẩm. Họ phải
ăn đồ hộp của chính phủ cung cấp trong suốt thời gian ở trại. Không trồng
trọt được ở trại Manzanar nhưng những tảng đá lớn ở đó quả là sự an ủi lớn của
đấng Tạo hoá cho những người Nhật lúc đó. Họ tạo dựng vô số vườn đá với
những hòn non bộ đủ hình thù, kiểu dáng. Hầu như mỗi block đều có một khu
vườn. Dường như những khu vườn là nơi để họ quên đi những khó khăn bế tắc
trong trại tập trung. Trẻ con đến trường lập tạm trong trại. Người
lớn sửa sang lại nơi ở. Những bác sỹ, dược sỹ, y tá thì làm việc trong trạm
y tế của trại với tiền lương khoảng 19 đô một tháng. Một số người mở tiệm
tạp hoá, cắt tóc và cả dịch vụ ngân hàng trong trại Manzanar. Vài tháng
sau đó một số người được ra làm việc ở những trang trại chăn nuôi gần đó.
Ông nội của anh là một trong số những người ấy. Công việc của ông là phân
loại trống mái những gà con mới nở. Ông làm với độ chính xác cao nên được
gọi đi làm thường xuyên.
Một
vài vườn Nhật còn sót lại ở Manzanar. (Thuỷ Như)
Người Nhật thích đá và gỗ. Họ dùng đá tạo vườn ngoài
trời. Lấy những mảnh ván từ những kệ chở hàng đến trại để làm bàn ghế, tủ
kệ để dùng trong mỗi gia đình. Nhiều vật dụng chưng bày ở viện bảo tàng
Manzanar rất đẹp. Có lẽ gỗ ngày xưa tốt nhưng sự khéo léo và sáng tạo của
những người Nhật trong hoàn cảnh thiếu thốn lúc đó là một điều đáng khâm phục.
Ông nội của anh đóng nhiều vật dụng nhưng có lẽ cái bàn viết là vật ưng ý nhất
nên ông đem về Los Angeles sau khi ra khỏi trại năm 1945. Đó là cái bàn
có ba ngăn kéo phía bên phải nằm chồng lên nhau từ dưới lên trên. Gần sát
mặt bàn phía bên trái là một ngăn kéo rộng và cạn. Bàn được đóng bằng gỗ
từ những tấm ván của những kệ chở rau quả lấy được một trong những nơi ông làm
việc lúc ở trại. Và có cả một mảnh từ bảng tên đường trong trại được đóng
bên hông bàn.
Khi gia đình trở về lại Los Angeles, may mắn là người hàng
xóm đã trông coi căn nhà nên không bị ai chiếm đoạt. Dầu vậy, căn nhà bị
bỏ hoang trong hơn ba năm đã bị hư hỏng nhiều. Ông nội anh cùng những người bà
con đã sửa chữa lại ngôi nhà để cho rất nhiều người bà con về ở cùng vì họ
không còn nhà cửa. Tất cả đều bắt đầu lại từ đầu và chiếc bàn gỗ đi theo
gia đình ông nội cho đến khi ông qua đời năm 1999. Rồi chiếc bàn được về
nhà ba anh. Mỗi lần dọn nhà, ba anh đều đem chiếc bàn theo. Nó
không đẹp nhưng mang biết bao kỷ niệm của gia đình. Và bây giờ cái bàn được
cậu con trai lớn của chúng tôi chọn làm bàn ngồi học.
Ba anh lúc đó mới sáu tuổi nên ký ức về trại tập trung không
nhiều. Mỗi lần hỏi chuyện, ông nói chỉ nhớ là thường chạy chơi với những
đứa trẻ khác trong barrack. Có vài lần mãi chơi nên tiến về hàng rào kẽm
gai thì bị người lớn la quay trở lại trước khi bị ăn đạn của lính canh.
Dường như ông không có những cay đắng về trại tập trung. Ông ra khỏi trại lúc gần
mười tuổi. Chồng tôi là con trai trưởng, nên lúc anh mười tuổi, anh được ba dắt
đến thăm trại Manzanar. Lúc bấy giờ trại bị bỏ hoang nên tiêu điều lắm. Sau đó,
những người Nhật từng sống trong trại các tập trung cùng con cháu của họ đã vận
động công, của và sự hỗ trợ của các cấp chính quyền để Manzanar trở thành khu
di tích lịch sử. Cô hai của anh là một trong những tiếng nói mạnh mẽ trong việc
này. Năm 1972 Manzanar được công nhận là một di tích lịch sử của bang
California. Năm 1988 tổng thống Reagan nhân danh nước Mỹ chính thức xin lỗi những
người Nhật bị giam trong những trại tập trung. Ông cũng ký một quỹ để bồi
thường mỗi người Nhật bị giam trong trại với số tiền hai chục ngàn đô la.
Trong khoảng 80,000 người còn sống đến năm 1988, có khoảng 60,000 người nhận số
tiền này. Đối với rất nhiều người Nhật trong đó có ông dượng của anh, một
lời xin lỗi từ nước Mỹ là đủ. Số tiền 20,000 đô không có nghĩa gì cả.
Giải thích cho con về đài tưởng niệm (Thuỷ Như)
Năm 1992 Manzanar được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc
gia. Năm 2001 Viện bảo tàng quốc gia về cộng đồng Mỹ gốc Nhật được khánh
thành ở Washington, D.C. Năm cậu con trai lớn của chúng tôi lên mười, anh
đưa gia đình chúng tôi đến thăm Manzanar. Khác với lúc anh lên mười,
Manzanar ngày nay khang trang hơn nhiều. Chúng tôi thấy nhiều khu vườn Nhật
được khôi phục. Viện bảo tàng chưng bày rất nhiều di tích. Lúc anh
mười tuổi, Manzanar tiêu điều, hoang vu và trơ trọi. Ba anh không thể chỉ
cho anh những dấu tích của gia đình. Năm gia đình chúng tôi đến thăm, anh
có thể chỉ cho các con tôi, tên của hai bà cố, ông bà nội, các anh chị em và bà
con của ba anh trên màn hình có 10,000 tên của những người ở trại
Manzanar. Chúng tôi thăm các barrack, vườn đá và tìm khu đất chỗ gia đình
ông bà của anh ở hơn 70 năm trước.
Danh sách những người ở trại Manzanar (Thuỷ Như)
Ông xã tôi bảo các con của chúng tôi: “Ông nội đã ở
trong trại tập trung này từ tháng 5 năm 1942 đến tháng 12 năm 1945. Vậy
là họ đã ở đó bao lâu?” Các con tôi tính toán và trả lời: “Hơn ba năm rưỡi.”
Anh tiếp: “Ba mươi năm sau, ông ngoại cũng ở trong một trại tập trung khác bảy
năm.” Cậu con nhỏ của tôi tiếp: “Trại tù cộng sản Việt Nam phải
không ạ? Tụi con nghe mẹ kể nhiều lần.” Cậu con lớn tôi hỏi: “Thế
Việt Nam có xin lỗi và đền tiền cho ông ngoại không?” Tôi bỗng
thấy nghẹn giọng, ráng trả lời con: “Chắc là không. Hy vọng là có một
ngày… nhưng niềm hy vọng ấy có thể chẳng bao giờ xảy ra.” Tôi thấy mắt
mình nhoà đi khi trả lời con câu đó. Tôi thầm nghĩ: “Chẳng biết sẽ có
ngày ấy hay không.” Xin kết thúc bài viết này với câu nói của John
Tateishi, người lãnh đạo cuộc vận động cho công lý của những người Nhật trong
các trại tập trung. “ [Công lý cho những người Nhật bị giam trong các trại
tập trung] đó là di sản chúng tôi để lại cho đời sau và cho đất nước, để nói rằng
‘ Anh có thể phạm sai lầm, nhưng anh phải sửa nó lại – và khi sửa sai, hy vọng
sẽ không lặp lại lỗi đó nữa.’ ”
***
Tuần rồi đọc bài viết “Chuyện Tháng Tư 2026” của Khôi An
trên Việt báo, tôi cảm thấy buồn và thương cho số phận của những thương phế
binh của VNCH còn ở Việt nam. Nhưng rồi tôi lại biết ơn Chúa vô cùng. Tôi
cảm ơn Chúa đã cho gia đình của tôi đến Mỹ. Đó là một sự bồi thường lớn hơn nhiều
so với hai chục ngàn đô la mà nước Mỹ trả cho mỗi người Nhật bị giam trong các
trại tập trung. Ở Mỹ, cuộc sống của ba mẹ và tất cả các chị em tôi tốt hơn rất
nhiều lần so với những ngày sau năm 1975 của gia đình tôi. Nếu không có chương
trình H.O. thì gia đình của chúng tôi vẫn phải còn ở Việt nam. Nếu vậy thì chắc
chắn cuộc sống của chúng tôi cũng không khá hơn những người thương phế binh
VNCH mà Khôi An đã kể. 51 năm trôi qua từ khi cuộc chiến kết thúc. Nhiều thế hệ
tiếp nối nhưng những thương phế binh đó vẫn còn bị chính quyền Việt Nam trừng
phạt. Chẳng biết đến bao giờ Việt Nam mới có một vị lãnh đạo có thể làm được
như tổng thống Reagan đối với người Nhật ở trong các trại tập trung vào những
năm 1942–1945. Hay là như tổng thống Abraham Lincohn đã đối xử tử tế với
những người thua cuộc sau cuộc nội chiến Bắc–Nam của nước Mỹ. Đến bao giờ Việt
Nam mới có một nhà lãnh đạo làm được như vậy để những người thương phế binh
VNCH ở Việt Nam được sống quãng đời còn lại của họ trong an bình? Nếu nhà cầm
quyền Việt Nam thật sự muốn hoà hợp hoà giải dân tộc, điều mà chính phủ Việt
Nam vẫn hô hào trong bao năm qua, hãy đối xử tử tế với những thương phế binh của
VNCH. Đó là việc làm đầu tiên để chứng tỏ rằng họ thật sự muốn hoà hợp hoà giải.
Hãy có một chính sách nhân ái với những thương phế binh VNCH trong những năm cuối
đời của họ. Chính quyền Việt Nam đến bao giờ mới làm được như vậy? Trái banh đã
ở trong tay họ rất lâu rồi!
