Ra trường, sau vài năm trải nghiệm nghĩa vụ miền núi, tôi được bổ về dạy học tại một trường trung tâm nội đô. Hôm ấy tôi trống tiết 2 & 3, nên tranh thủ ra trước cổng trường, ăn sáng. Quán này chuyên cung cấp hải sản, cơm văn phòng và một vài món ăn sáng. Chợt tôi thấy một người đàn bà ngoài ngũ tuần, nước da hồng hào, đôi môi đỏ thắm. Trên cổ là sợi dây chuyền vàng nặng trĩu. Hai tay đeo kín vòng xuyến hay ximen 7 chiếc. Mười ngón tay gần như chẳng ngón nào không mang nhẫn với đủ loại mặt ngọc.
Tôi nhìn chị
gật đầu chào, chị cười hiền chỉ vào trong quán:
-Cô giáo
dùng gì, vào mấy em làm cho!
Đó là chị
Lâm, chủ quán.
Chị từ vùng
biển Thuận An lên Thành Nội mua căn nhà mặt tiền cách đây vài năm. Hồi mới mua,
nhà chỉ môt trệt, một lững cũ kỹ. Sau một thời gian, chị xây lại thành hai tầng
khang trang rồi mở quán ăn. Chị thuê người làm hết. Chị chỉ đi ra đi vào quán
xuyến chung, dáng bộ chị rất thảnh thơi.Tuy nhiên, lúc nào cũng giản dị, bình
dân. Khách ăn trong quán còn ngồi bàn ghế đàng hoàng, còn chị lại hay ngồi bên
bậc thềm trò chuyện với hàng xóm một cách vui vẻ, ăn sáng, ăn vặt gì chỉ cũng
chỉ ngồi đó, không cần bàn ghế gì sất. Khi có cái đòn, có khi chị ngồi ngay bậc
thềm chuyện vãn với láng giềng. Trong xóm và khách của quán ai cũng quý chị.
Tôi quen chị từ đó.
…
Sau mấy
tháng nghỉ hè, tôi mới quay lại trường.
Chị chủ nhà
vẫn ngồi đó, nhưng bộ điệu đã khác, nụ cười buồn hơn. Vàng trên hay tay không
còn nhiều như mọi khi. Gương mặt sầu thảm, mất hết cả sinh khí!
Tôi nghĩ thầm,
có lẽ chị ốm, hỏi:
-Dạo này khỏe
không chị Lâm?
Chị không
trả lời ngay mà theo tôi đi vào trong quán, tôi mua ít cá, tôm về cho gia đình.
Đợi em nhân viên soạn
hàng cho
tôi.
Chị bảo:
-Cô giáo
dùng chén trà ấm đi!
Khói trà
bay lên rồi tan mất giữa khoảng sân đầy nắng.
Chị nhìn
tôi, ánh mắt chị buồn như ngày tận thế, chị chậm rãi nói:
- Tui mất
nhà rồi cô giáo!
Tôi giật
mình, căn nhà hai tầng trước mặt còn đó. Bức tường mới sơn còn thơm mùi vôi mới.
Mất nhà là mất làm sao?
Chị hiểu thắc
mắc của tôi, cúi đầu nhìn xuống chén trà rồi nói:
- Chồng tui
bán rồi.
Giọng buồn,
trầm mang vẻ cay đắng. có những nỗi đau chỉ muốn khóc mà đau quá có khi khóc
không nổi.
-Tuần sau
tui phải vô trong hẻm thuê nhà để 4 mẹ con sống với nhau. Chắc cũng tiếp tục
bán quán ăn nhưng nấu ít lại, cho nhân viên nghỉ bớt chỉ để lại một người đứng
bếp.
Chị chậm
rãi kể tiếp:
- Chẳng giấu
gì cô. Vợ chồng tôi làm ăn, tích cóp mà có. Ngày trẻ, vợ chồng theo ghe đánh
cá. Những chuyến biển kéo dài hàng tháng trời. Có khi đi tận vùng đảo xa. Những
lần gặp bão, chỉ biết ôm nhau, cầu trời cho ghe đừng lật. Mưa gió, sóng lớn, hiểm
nguy đủ thứ. Cực khổ vậy nhưng cũng dành dụm được chút vốn.
Khi có chút
vốn, tôi mới tính lên phố mua nhà, làm ăn, đặng kiếm chỗ con cái học hành cho
thuận tiện.
Thế rồi,
tui mở quán ăn cũng có đồng vô, đồng ra đủ chi phí sinh hoạt và lo cho con cái
học hành. Tưởng cuộc đời từ đó sẽ yên ổn. Ai ngờ lúc túi có tiền, người lại
sinh chuyện.
- Đàn ông
nhiều khi lạ lắm cô giáo à. Hồi nghèo thì chăm chỉ làm ăn. Đến lúc có vài đồng
trong túi, rảnh rỗi sinh tật.
Ông ấy đi
nhậu.
Chị nói mà
giọng bình thản đến lạ, như đang kể chuyện của ai khác.
- Ban đầu
chỉ là nhậu nhẹt. Sau đó là bia ôm. Rồi dính luôn một con nhỏ thua ổng ba chục
tuổi, chỉ bằng tuổi đứa con đầu của ổng.
Tôi lặng lẽ
nghe chị kể, nhìn xuống những ngón tay chị. Những ngón tay từng kéo lưới, từng
vá chài, từng gói ghém cả tuổi trẻ trong mưa gió và mùi muối biển, đang run rẩy.
-Ổng bán
nhà.
Chị ngừng lại,
nhấp ngụm trà.
-Ban đầu ổng
giấu. Sau thì chẳng buồn giấu nữa.
Ổng về bán
căn nhà này, lấy tiền đi theo gái rồi. Nghe nói vô Nam sống. Còn nhà này đã có
chủ mới, người ta hẹn tuần sau giao nhà. Tui ngao ngán chỉ biết kêu trời!
Nói tới đây
mắt chị đỏ hoe.
-Tui vẫn
nghĩ rồi sẽ có ngày ổng tỉnh ra mà quay về.
Nhưng quay
về đâu chẳng thấy lại còn ngày một sa chân.
Tôi chỉ biết
động viên chị ráng giữ gìn sức khỏe, buôn bán và lo cho con. Rồi mọi việc sẽ
qua!
Thời gian
trôi đi mới đó đã ba năm, tui thỉnh thoảng tôi vẫn ghé ủng hộ chị. Nghe chị kể,
tiền buôn bán không đủ chi phí trả mặt bằng. Chị tính gọi điện qua Mỹ, nói với
chú Út là cho dựng tạm căn nhà tôn ở trên đất chú, chèo chống cho con lớn lên một
khúc nữa, để các cháu học xong phổ thông mà kiếm việc làm. Khi nào chú về Việt
Nam nghỉ hưu thì trả lại đất cho chú.
(chú Út là
em trai ba nó, qua bên Mỹ đánh cá cũng khá, gửi tiền về nhờ mua giùm một miếng
đất để sau này về dưỡng già).
-Tui nghe
mà rụng rời tay chân. Theo gái trẻ mà như bị người ta lấy mất hồn vậy đó cô
giáo.
-Đứa con
trai đầu bảo tôi (chị kể tiếp): “Mẹ cho con đi nhảy tàu vài năm cho cứng cáp để
con tìm ba, con chém chơ con tức quá rồi!
Tôi hết hồn
hết vía bảo con:
- Mạ lạy
con! Ổng sai thì có trời biết. Mình đừng gây thêm tội. Ông ấy chết rồi rồi nhà
cửa mình cũng đâu lấy lại được, còn chưa kể con ngồi tù , mẹ làm sao mà bới
xách vừa lo làm lụng để nuôi mấy em. May mà thằng nhỏ cũng nguôi.
Thế rồi
thôi, mấy mẹ con cứ cặm cụi làm ăn qua ngày đoạn tháng. Bây giờ hai đứa đã tốt
nghiệp phổ thông và đi làm trong Bình Dương.
Tôi ghé thấy
quán nhỏ hơn, bàn ghế ít hơn. Nhân viên cũng ít hơn. Nhưng chị vẫn ở đó, cặm cụi
làm ăn, chống chọi với những món nợ mà mình không gây ra.
Bẵng đi một
thời gian tôi bận rộn quá, không ghé.
Cho đến một
buổi trưa. Bước vào quán, tôi thấy trong góc nhà có một người đàn ông đang nằm.
Ông gầy đến mức chỉ còn da bọc xương. Cái bụng trướng lên như chiếc trống cũ. Mắt
đục. Hơi thở đứt quãng.
Tôi nhận ra
đó là chồng chị. Người đàn ông đã bán nhà. Đã bỏ vợ, bỏ con, đi theo tình trẻ.
Tôi ghé tai
hỏi nhỏ: “Ổng quay về rồi hả chị?” Vậy là ổng “quay đầu là bờ”.
Chị bảo:
-Đâu có, ổng
không quay đầu mà là lâm trọng bệnh, con nhỏ đó nó lấy hết tiền rồi nó đá ổng
luôn. Bệnh viện trong đó mới gọi vào nhận. Mấy mẹ con tui nghĩ thôi thì đưa ổng
về. Dù sao cũng là cha tụi nhỏ.
Tôi nhìn chị,
Không biết trong lòng người đàn bà ấy còn lại gì? Hận, Buồn? Hay đã mệt đến mức
không còn sức để oán trách?
- Rồi tui
nhờ người em gái của ổng vô đem ổng về, nằm bên bệnh viện Huế một thời gian,
nay cũng hơi đỡ chút, nhưng không còn đi được nữa. Hôm xe chở về phải mấy người
khiêng ổng vô mới được vì ổng bị xơ gan cổ trướng, hẻm nhỏ xe không vô được nên
phải mỗi người mỗi tay mà đưa cáng ổng vô. Mấy đứa trong xóm nhìn thấy cảnh ấy
mới nói rằng: “Khi anh đi không người đưa đón. Khi anh về tám chín người
khiêng” là vì vậy!
Thôi thì
còn chút nghĩa tào khang, chị chăm sóc ổng những ngày tháng cuối đời như một
cách làm phước. Cũng là một cách chị thương con. Vì chị không chăm, con cái ổng
cũng sẽ phải lo cho cha nó. Thôi không tính toán gì với ổng nữa. Chắc ổng cũng
bị lương tâm dày vò, ân hận lắm rồi!
Lúc ra về,
tôi ngoái nhìn. Người đàn ông nằm im trong góc nhà.
Saigon,
ngày 10/6/2026
