Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả.
Đó không chỉ
là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng
chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con
thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh
mà đi.
Sáng hôm
sau, ông ngoại gọi điện sang bảo:
-Con có vô
Sài Gòn thì tới nhà của cậu Hải mà trọ. Nói với cậu ấy, cho cháu ở nhờ để đi học.
Như Nguyệt
đáp:
- Dạ thôi
ba, để con đưa cháu vô rồi tính.
Cúp máy, chị
vẫn ngồi yên một lúc lâu. Thẫn thờ nhìn xa xăm, lòng bỗng đau như chạm vào quá
khứ.
Nghe chị kể,
tôi ngạc nhiên:
-Có sẵn nhà
đó, sao không cho cháu ở, đỡ được bao nhiêu tiền trọ?
Nguyệt
không trả lời ngay.
Nụ cười
trên môi chị chợt tắt. Một khoảng lặng rơi xuống. Chị nhìn ra ngoài sân, nơi có
cây cau thấp, thân lấm tấm những vết sẹo cũ của thời gian và bão tố. Chị nói với
tôi:
- Không dễ
thế đâu, nàng ơi.
Tui mừng vì
con đậu đại học tốp đầu, chất lượng. Mừng! Nhưng lòng cũng đầy lo lắng. Nỗi lo
cũng lớn dần theo từng bước chân con sắp đi xa. Tiền trọ, tiền ăn, tiền học...,
Nhưng tui sẽ cố gắng lo cho con.
Rồi rồi chị
kể, chậm rãi như lần giở lại từng lớp ký ức đã cũ mà chưa hề nguôi.
-Ba tui… ổng
đã bỏ mẹ con tui từ khi tui mới hai tuổi, anh Hai lớn nhất cũng mới mười tuổi,
chị ba 5 tuổi, em trai nhỏ nhất mới ba tháng tuổi. Ông theo người đàn bà khác,
Lúc ấy mẹ tui mới ba mươi tuổi, Một mình mẹ dắt bốn đứa con về quê ngoại Phong
An, (cách Huế chừng hai mươi cây số) sống lay lắt bằng nghề ruộng, rẫy.
Về làng quê
cũng nghèo. Mẹ cực khổ nuôi con bằng rau cháo qua ngày. Anh em tui cố gắng học,
nhưng học được chừng nào hay chừng ấy, chứ không thể tới bờ tới bến. Anh Hai học
hết lớp chín đành nghỉ, ở nhà làm phụ mẹ nuôi em. Chị Ba gắng gỏi lắm cũng chỉ
đến lớp mười một rồi xin đi làm công nhân. Còn tui, học hết phổ thông, đành gác
lại giấc mơ đại học, đi học may để mưu sinh. Đứa em út chọn con đường ngắn hơn:
học trung cấp thú y rồi ra làm ở trạm xã. Còn cha tui, như một con nước khác chảy
về phía đời sống của riêng mình.
Ông là một
sĩ quan. Sau biến cố năm 1975 đi “cải tạo” hơn ba năm. Trở về, việc đầu tiên
ông làm là tìm lại người tình của ổng. Rồi ông tìm mẹ tôi để nói phải trái về
việc kết thúc. Cuộc ly hôn chóng vánh chưa được bao lâu cũng vừa kịp cho một
hành trình khác: sang Mỹ theo diện HO cùng người đàn bà đã khiến ông rời đi năm
xưa. Rồi ba tui dắt vợ mới của ổng qua Mỹ.
Ngày rời Huế
để vào Saigon, ông mang theo cả va li tiền. Còn vợ cũ và bốn đứa con thì ở lại,
trắng tay.
Từ đó, ổng
cắt liên lạc với mấy mẹ con.
Mẹ tui một
mình nuôi con trong cảnh khó nghèo. Ngày xưa, ba đi lính, gia đình theo chân ổng.
Có con thì khai sinh để được hưởng lương con. Mẹ chỉ việc nội trợ, chăm sóc ông
bà nội và các con. Vậy mà đùng một cái, ông bỏ ngang, chia tay vợ con khi đã
tìm được tình yêu mới. Từ bữa nớ, tụi tui không còn nằm trong phần đời của ba
tui nữa.
Mấy mẹ con
dắt díu nhau về quê ngoại, sống tiếp trong thiếu thốn và nỗi buồn phụ bạc. Mẹ
tui gầy như chiếc lá khô vì buồn, nhưng vẫn ráng làm lụng nuôi con. Mẹ bảo: các
con là động lực sống của mẹ.
Mười năm
sau, từ Mỹ ông trở về. Không phải để bù đắp, mà chỉ để thăm cha mẹ già. Bốn anh
em Nguyệt được gọi lên. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, vài câu hỏi xã giao, rồi ai lại
về với cuộc đời nấy.
Ổng chẳng hỏi
gì đến mẹ tui. Rồi mấy năm sau, ổng về lại Huế mua đất, làm nhà. Ổng bảo: “Đi Mỹ
vậy đủ rồi, nay về Huế dưỡng già.” Gia đình mới của ổng nay ở khu đô thị cao cấp
An Cựu. Thằng con trai út của ổng với vợ sau là Thế Hải vừa đậu đại học năm
ngoái, ổng liền bay vào Sài Gòn mua cho nó một căn nhà ngay quận Ba. Vì thế mà ổng
mới bảo Thành Phong vô Sài Gòn xin ở nhờ cậu Hải.
Tui nghe mà
im. Có những chuyện, nghe thôi là đủ.
Tui là con
gái của ổng mà chẳng được ổng thương, nói gì đến cháu. Nên thôi! Biết rằng lúc
này, sự giúp đỡ dù từ ai, nếu thật lòng cũng đều đáng quý. Biết là ở trọ thì phải
tiền đóng, gạo góp mà ăn, chẳng dễ gì nhờ vả. Nhưng tui không thấy an toàn cho
con.
Còn về phần
tui, Như Nguyệt chậm rãi kể tiếp: tui học được, nhưng vì hoàn cảnh nên phải đi
đường vòng. Sau phổ thông, tui đi làm thợ may để sống. Khi kiếm được chút đỉnh,
tui mới thi vào Cao đẳng Sư phạm, thực hiện ước mơ làm cô giáo còn dang dở. Thực
ra tui thích Đại học Sư phạm, khoa Sử, nhưng không dám mơ. Nghĩ rằng học cao đẳng
cho nhanh, ba năm ra trường đi dạy. Rồi tui ra trường, xin được một trường huyện.
Dạy được hai năm thì gặp anh Phạm Tiến, lúc đó đang làm thợ nhôm, xây dựng trường.
Hai đứa quen nhau, một năm sau thì cưới.
Nhà Tiến ở
Vĩ Dạ. Ba Tiến là thầy giáo về hưu. Mẹ chồng đã mất. Trong nhà còn mấy cô chị
và em chồng, người làm giáo viên, người làm y tế cộng đồng. Chỉ có Tiến hoc
chưa xong 12, nghỉ ngang đi học thợ nhôm. Tiến hiền, nhưng vô tâm. Đi làm xa, nửa
năm mới về, khi đưa tiền, khi không. Tuy nhiên, anh ta có một ưu điểm: không
gái gú, chỉ nhậu thôi. Còn mấy mụ o chị em chồng thì do dảnh lắm. Khó tính, hay
kiếm chuyện. Bố chồng cho vợ chồng tui một miếng đất độ năm mươi mét vuông sau
vườn, xây cái nhà để ở, nhưng không cho chủ quyền. Muốn ở thì ở, chứ mua bán cầm
cố là không được.
Mẹ chị vẫn ở
quê, ngày một yếu đi. Như Nguyệt đều đặn chạy xe về thăm. Năm ngoái, mẹ chị trải
qua mấy cơn thập tử nhất sinh. Người cha năm xưa có đến bệnh viện một lần, trước
khi bà mất đúng một ngày.
Mẹ mất, chị
như mất cả bầu trời. Chị thương mẹ lắm! Nếu không có mẹ chèo chống nuôi con, bốn
anh chị em bây giờ ra sao? Khi cha đã bỏ mẹ, thì đồng nghĩa với việc ổng cũng bỏ
luôn con:
-Có người
làm cha vẫn có trách nhiệm nuôi con, nhưng ba tui thì không (chị kể). Trong khi
ba đứa con của ổng với vợ sau sống êm ấm như trên nhung lụa.
Nguyệt cười,
mà ánh mắt buồn, nhìn xa xăm như ngược về miền ký ức:
Chị nhìn
tôi, giọng trầm xuống:
-Nàng thấy
đó, con ổng mới đậu đại học Sài Gòn, ổng tức tốc bay vô mua nhà cho ở liền. Còn
tui, cũng là con ổng nhưng không có cái phước ấy.
Nhớ một câu
nói của dân gian có câu: “Trâu ăn một đồng mà con đói, con no.” Nghịch lý là vậy!
Sau mấy
năm, gặp lại chị kể: "con trai đầu của tui Thành Phong học xong Đại học
Bách khoa, có việc làm ổn định tại Vũng Tàu. Con gái út, Bích Nguyệt cũng rất
giỏi, tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Sài Gòn, nay làm ở quận Ba. Tui vẫn đi dạy.
Chồng tui vẫn đi làm thợ ở tỉnh".
Tôi mừng
cho chị, xuất thân đáng lẽ không đến nỗi côi cút, vậy mà cũng lao đao. May mà
còn có mẹ!
Như Nguyệt
đảm đang, chịu khó như mẹ. Và bây giờ, trời không phụ lòng người: các con đã
thành công.
Hiện nay,
gia đình ba Như Nguyệt vẫn ở cùng thành phố với nàng ấy, nhưng cha con ít gặp.
Nói đúng hơn, có gặp thì cũng vì lý do nào đó chứ chẳng mặn mà gì.
Năm ngoái,
tôi về Huế, Như Nguyệt dẫn tôi lên nhà nội (ở phía chùa Linh Mụ trên cách chừng
nửa cây số). Chúng tôi thăm lại mảnh vườn xưa. Ông bà nội đã qua đời. Bên cạnh
nhà nội là căn nhà của mẹ con Như Nguyệt hồi nhỏ, lúc ba chị chưa bỏ đi và mẹ
chị và ba an hem chưa dạt về nhà ngoại. Nay nhà cửa xuống cấp, chỉ còn mảnh vườn
với vài cây cối. Thỉnh thoảng, Như Nguyệt lên cuốc cỏ, chặt lá dong về gói
bánh, khi thì chặt chuối ba lùn về dú chín cho con ăn. Chị bảo:
-Tuần trước,
tui có gặp ba tui cũng lên vườn chặt buồng chuối đem về cho vợ con ổng.
Hai cha con
đứng cùng một vườn.
Chào nhau mấy
câu.
Rồi người
này quay lưng, người kia cúi xuống chặt tiếp buồng chuối.
Như chưa từng
là ruột thịt của nhau.
Sài Gòn,
ngày 10 tháng 4 năm 2026
