Hồi còn cắp sách đến trường, những năm cuối tiểu học và đầu trung học, tôi mê đọc vô cùng. Mê đọc chứ không phải mê “đọc sách” – chữ “đọc sách” nghe quá trịnh trọng và lớn lao, vượt ra khỏi tầm hiểu biết của mớ tuổi bé con của tôi. Thời đó đã có chiến tranh, sách vở thiếu thốn, vồ được cuốn nào là ngốn ngấu cuốn ấy, không phân biệt, không chọn lựa. Những cuốn sách cũ của ông chú có nhiều cuốn mất khúc đầu thì tôi đọc khúc đuôi, mất khúc đuôi thì đọc khúc đầu, mất cả đầu đuôi thì đọc khúc giữa. Trang mất trang còn cũng không sao, đọc tuốt.
Sau này, những năm tháng đầu tiên trong tù cải tạo, ngày nào
cũng bị nhồi nhét những lý thuyết và chủ nghĩa lỗi thời, khuôn sáo, rỗng tuếch.
Thế là nhặt được một trang giấy nào, hay ngay cả những mảnh giấy ố vàng rách rưới
nhỏ bằng vài ngón tay – xin lỗi – tức là giấy “vệ sinh” sau khi dùng đi cầu đã
khô, nằm một nơi nào đó cạnh hầm cầu lộ thiên, hễ có vài hàng chữ cũ là
tôi phủi phủi rồi banh ra đọc một cách say sưa. Hàng chữ cũ? Vâng,
tức là những hàng chữ từ những tờ báo, những trang sách “Ngụy” cũ, bị xé rời
làm giấy gói thức ăn mà vợ con người tù đi thăm nuôi mang đến. Và trạm chót của
những tờ giấy ấy là giấy “vệ sinh”. Quý giá vô cùng. Hơn hẳn lá tươi hoặc lá
khô. Hoặc túng quá, moi đất cục lên mà xài.
Trở lại chuyện hồi bé, tôi đọc những gì nhỉ? Nào La
Bính Hoa (không nhớ tác giả) ngày nào cũng đi ăn xin về nuôi mẹ già,
nhờ có hiếu nên sau gặp được ân sư mà trở thành tay kiếm sĩ vô địch; nào Hồng
Gia Nữ Hiệp (cũng không nhớ tác giả) võ công trác tuyệt và đẹp như
tiên nga, lại “thầm yêu trộm nhớ” chàng Bách Tường Vân; nào Nhà Sư Thọt, của
Phạm Cao Củng, ôm kín một cuộc đời bí ẩn một đêm bị bức bách đành phải vượt
hàng rào đánh mất chiếc ba-toong, và từ chiếc ba-toong ấy Kỳ Phát tìm ra án mạng;
nào chú tiểu Lan, Hồn Bướm Mơ Tiên, của Khái Hưng, trong bộ
nâu sồng “dịu dàng bẽn lẽn” ngồi thẫn thờ một mình trong vườn sắn cao quá đầu
người nghe tiếng chim gù mà nhớ anh chàng Ngọc đã đột ngột bỏ về Hà Nội; nào Trọng
Khang, Trường Đời, của Lê Văn Trương, nét mặt “phong trần” có một
bè gỗ lớn bị nước lũ cuốn mất bèn đi đánh bạc để gỡ gạc, lại xui xẻo thua nhẵn
cả túi tiền. Thế nhưng vẫn làm lại cuộc đời bằng hai bàn tay trắng v.v.
Ðó là văn xuôi, tiểu thuyết.
Còn thơ thì may thay, một đứa học cùng lớp có cuốn Thi
Nhân Việt Nam đã nhàu nát và mất nhiều trang của Hoài Thanh mà nó quý
như vàng. Những đứa khác, trong đó có tôi, năn nỉ mượn rồi chuyền tay nhau chép
lại gần trọn cả cuốn thơ vào những tập giấy học trò, rồi đọc lui đọc tới đến
thuộc lòng nhiều bài mình thích. Lời bình bay bướm, hay ho, và đầy khám
phá của Hoài Thanh, Hoài Chân, cùng những bài thơ rất lãng mạn trong cuốn sách ấy
sao mà hồi đó có sức lôi cuốn chúng tôi đến thế!
Nhưng dù văn hay thơ đều nói đến những tình huống kỳ lạ, bay
bổng, tha hồ đưa trí tưởng tượng của bọn chúng tôi đi lang thang thật xa. Để
khi nhìn lại cuộc sống thường ngày của mình, thấy nó gò bó, nghèo nàn, và
chật chội quá chừng. Càng đọc lung tung, càng mơ ước viển vông, càng thất vọng.
Rồi bắt chước buồn cái buồn của các thi sĩ – Tôi buồn không hiểu vì sao
tôi buồn.
Một lần, tôi gặp được mấy câu thơ của Tế Hanh:
Vào thời gian ấy, tôi cho đó là những câu thơ hay tuyệt, và
nhất là nó đã vẽ ra cái khung cảnh gần gũi nằm trong tầm tay của
mình. Mình cũng có những ngày nghỉ học; nhà mình ở cũng gần nhà ga.
Số là như thế này. Một buổi sáng nghỉ học, thằng bé 12,
13 tuổi là tôi đạp xe đạp ra ga xe lửa Huế để thử tìm kiếm cái cảm giác được
mô tả trong bài thơ nói trên. Xe lửa tới, rồi xe lửa đi, hành khách lên,
rồi hành khách xuống, mà thằng bé chỉ có cảm giác hụt hẫng mà thôi. Nó chẳng
kiếm đâu cho ra một thứ gì thơ mộng hoặc làm cho nó “lòng buồn đau xót”.
Lòng nó trống rỗng. Nó ngơ ngáo, ngượng nghịu, ngó quanh. Người ta
tò mò nhìn nó. Nó chột dạ. Rồi mặt nó đỏ lên như ăn vụng bị bắt gặp.
Nó định bụng đứng lì thêm một chốc nữa thôi, để làm gì nó
cũng không biết. Nhưng rủi thay, người lính gác từ xa lù lù đi tới vẻ mặt đầy
nghi ngờ, có lẽ nghĩ nó là kẻ gian. Cho nên nó vội nhảy lên xe đạp một mạch
không quay đầu nhìn lại, nhưng cái lưng nó vẫn cảm thấy nhột nhạt vì những cái
nhìn đuổi theo chế giễu. Nó chắc mẩm rằng mọi người đều chú ý đến
cái cử chỉ “quái chiêu” của nó.
Từ đó, ngoài những lần buộc lòng phải đi đâu bằng hỏa xa, thật
ra nó cũng ít có dịp đi xe lửa, nó không còn dại dột mò tới những nhà ga để mộng
mơ, để xem người ta chia tay, tiễn biệt.
Bây giờ sống trên đất Mỹ này, nhiều dịp đến những phi trường,
những sân ga, hoặc những bến xe đi xuyên bang, có khi nhớ lại bài thơ ấy của Tế
Hanh, tôi chỉ thấy gợn lên trong lòng một chút cảm giác mơ hồ như mặt nước ao
tù phẳng lặng bỗng chạm phải một chiếc lá khô vừa rơi xuống. Một vòng tròn
cảm xúc nhỏ lan ra thành vài ba vòng tròn đồng tâm rồi biến đi nhanh trước khi
chiếc lá nằm yên trên mặt nước.
Nhưng hôm nay khác. Tôi đến đây không phải để tình cờ chứng
kiến những cuộc chia ly. Tôi đến để tiễn đưa. Và bàn tay vẫy vẫy, và khuôn mặt
thân yêu trong toa xe lửa ngoảnh lại nhìn, rồi xa dần, rồi chìm khuất sau mấy
tòa nhà khô cứng, sau mấy ngọn cây đu đưa khi cơn mưa chốc chốc bay tới, để lại
tôi với Hưng đứng trên sân ga nhìn theo.
Tôi bắt tay Hưng, bảo có việc cần qua khu vực dành cho
xe bus chạy liên bang. Không phải vì tôi muốn tránh xa anh
chàng chải chuốt này, mà vì tôi muốn ngồi nán lại nơi đây trong một thời gian
nào đó.
Lòng tôi nặng trĩu.
*
Người đàn bà ngần ngại nhìn tôi, mỉm cười, và hỏi:
“Xin lỗi ông, mấy giờ rồi, thưa ông?”
Tôi lấy kính từ túi áo ra đeo, vén ống tay áo lên. Người đàn
bà vội xua tay:
“Thôi khỏi phiền ông. Kia kìa, có cái đồng hồ treo tường
ở cuối hành lang. Nào, xem nào. 9 giờ 20! Chết tôi rồi! Xe tôi đi đã khởi
hành lúc 9 giờ. Chết tôi rồi!”
Tôi kín đáo quan sát người đàn bà. Thiếu phụ khoảng tuổi 40
đến 45, thân hình cân đối, hơi gầy, mặt có nét buồn nhưng thanh tú, giọng nói ấm
áp, nụ cười tươi. Tóm lại, đẹp và có duyên. Chỉ có đôi mắt là lạ lùng.
Tôi chưa hề thấy nụ cười tươi sáng đi theo với cặp mắt tối tăm, hoặc dửng dưng,
như ở người đàn bà này.
Tôi trấn an:
“Không sao đâu cô. Có thể có hai chuyến xe mỗi ngày. Trễ
chuyến thứ nhất thì đi chuyến thứ nhì. Vậy cô đi đâu nào? Ðể tôi
xem thử có chuyến buổi chiều cho cô hay không.”
Thiếu phụ chăm chú nhìn tôi, thoáng một chút bỡ ngỡ, nhưng nỗi
lo lắng vẫn hiện rõ trên đôi mắt:
“Tôi đi Green River, tiểu bang … gì tôi quên mất.
Nhưng tôi sẽ nhớ lại ngay. Vâng, U Ta. Lần đầu tiên tôi đi xa một mình. Tiếng
Anh tiếng u tôi không biết. Phiền ông hỏi hộ cho tôi xem có chuyến buổi
chiều không ông nhé. Hôm nay mà không đi được, tôi sẽ không biết xoay xở
ra làm sao cả. Khổ cho tôi quá! Ông giúp tôi nhé, thưa ông.”
Tôi khẽ gật đầu và đến quầy bán vé đứng nối đuôi chờ.
Hành khách đông đảo, phần lớn nói tiếng Tây Ban Nha. Không có người Việt
nào cả ngoài người đàn bà đó và tôi. Tôi phải chờ đến hơn 15 phút mới sắp đến
lượt mình được tiếp. Vừa quay người lại, tôi đã thấy thiếu phụ đứng ngay
sau lưng tôi, nét lo lắng hiện rõ trên đôi mắt đen và u ám. Thiếu phụ ấp
úng:
“Ông Mễ bán vé đó nói tiếng Mễ phải không ông? Ông
có biết tiếng Mễ không? Làm sao bây giờ!”
“Không sao cả. Thấy cái mặt của tôi là họ chuyển qua nói tiếng
Anh ngay. Tiếc là họ không nói được tiếng Việt để có thể nói chuyện thẳng
với cô. Những người làm việc ở đây nói thạo cả tiếng Anh và tiếng Tây Ban
Nha.”
Tôi quay qua hỏi người bán vé, được trả lời không có chuyến
xe nào đi Green River cả. Rời khỏi quầy bán vé, tôi ái ngại nhìn người
đàn bà và cho cô ta biết điều đó. Thiếu phụ vội vã tiếp lời:
“Khổ thân tôi quá! Lúc nẫy tôi quên bẵng không chịu nói
cho rõ ràng, thưa ông. Xin lỗi ông. Tôi cũng biết rằng không có xe đi
Green River, nhưng người nhà tôi có dặn cứ đến Salt Lake City, chờ ở đấy, rồi
xe nhà sẽ đến đón về. Vậy phiền ông một lần nữa nhé. Nhờ ông hỏi xem
còn chuyến đi Salt Lake City vào buổi chiều hay không. Làm phiền ông nhiều
quá, tôi vô cùng áy náy, thưa ông.”
A, cái cô này ăn nói lễ phép một cách quá đáng, nhưng bù lại,
giọng nói nghe hay quá, khiến tôi cũng muốn bắt chuyện để được nghe thêm. Tôi vốn
thích nghe giọng nói của phái nữ.
Salt Lake City, tôi có đến một lần. Ðó là thành phố thủ
phủ của tiểu bang Utah, nằm gần cái hồ rộng mênh mông, hơn 500 ngàn mẫu tây,
cao hơn một cây số so với mực nước biển, và nước hồ mặn chát, mặn gấp ba, gấp bốn
lần nước biển, mặn đến nổi cá không sinh sống nổi. Chỉ có một loại tôm vỏ
cứng nhỏ tí tẹo, màu đỏ hồng, nhỏ bằng đầu cây tăm xỉa răng và dài cũng chỉ bằng
một lóng tay thôi, là có thể sống tại cái hồ đó. Nhờ có loại tôm tí hon ấy
mà bầu trời của vùng hồ nước mặn và những thành phố lân cận sinh động hẳn lên
vào mùa xuân và mùa thu.
Tôi nói lên chi tiết đó. Người đàn bà trố mắt nhìn, có lẽ
nghĩ tôi có tính ưa đùa cợt, khẽ đáp:
“Tôm sống dưới nước mà làm vui cho bầu trời! Sao lại
có chuyện lạ thế, thưa ông.”
“Nhưng tôi chưa nói hết mà. Vâng, những loài chim di điểu ở
miền bắc nước Mỹ, ở Canada, ở gần miền Bắc cực, từ cuối mùa thu đã lo bay về
nam tránh cái rét của mùa đông trên đó. Bay cao và xa lắm, hàng ngàn dặm, hàng
chục ngàn con, thường ghé lại vùng hồ ấy cho đôi cánh được nghỉ ngơi năm bảy
tiếng đồng hồ. Vâng, trước khi tiếp tục chuyến bay rất xa xôi đó, chúng sà
xuống mặt hồ săn đuổi những con tôm bé nhỏ đang lặn lội nhởn nhơ, gọi là kiếm
chút thức ăn độ đường. (Tôi có lần đi chơi lội xuống cái hồ ấy. Đi xa bờ hồ khoảng
nửa cây số, mực nước vẫn chỉ lên đến ngang thắt lưng. Những con tôm nhỏ liền
bơi đến rỉa rỉa vào tay chân, vào thân hình, nhột nhạt).
“Ðến mùa xuân ấm áp năm sau, những đàn chim năm ngoái lại
bay về quê cũ –– có nhiều con chim bay về đúng tổ của nó trên một lùm cây, một
hốc đá, hay một gác chuông giáo đường nào đó – lại ghé xuống mặt hồ. Cả mấy
vùng quanh đấy lại sinh động hẳn lên. Năm nào cũng thế, từ xa xưa cho đến
bây giờ”.
Nói xong, tôi cười thầm. Thế ra mình đã bị lây cái lối
nói kiểu cách, lựa lời của thiếu phụ. Tuy nhiên, con gái Bắc kiểu cách một
cách thật duyên dáng, mình đâu bắt chước nổi, tôi thầm bảo.
Cái thành phố Salt Lake City khá lớn này hẳn nhiên được vài
ba chuyến xe buýt xuyên bang phục vụ mỗi ngày, tôi nghĩ thế, nhưng tôi cũng đến
người bán vé hỏi lại cho chắc. Ðúng vậy, có hai chuyến xe buýt Grey
Hound đi từ Santa Ana đến Salt Lake City, một sáng một chiều. Thật
ra, hai chuyến đó đi từ cực nam của Cali, tức là thành phố San Diego, rồi ghé
Santa Ana lấy thêm hành khách.
Lỡ đã mua vé chuyến buổi sáng, đến trễ, chỉ việc đóng thêm
tiền phạt mười phần trăm để đi chuyến chiều, khởi hành lúc 4 giờ.
Ðược biết như thế, thiếu phụ mừng rối rít, đưa bàn tay trái
vuốt lại mái tóc đổ xuống che một phần của vầng trán, và vui vẻ nói:
“Thật là may mắn cho tôi! Nhất là may mắn đã gặp được ông
nơi đây, ông sẵn sàng giúp đỡ. Nếu không, tôi chết mất. Tôi nói thật đấy.”
Giọng Bắc du dương. Người đàn bà lại cười nói một cách hồn
nhiên, khiến tôi cũng thấy vui vui trong lòng. Tôi gợi chuyện tiếp:
“Mà này cô, Green River? Nghe hay quá. Green
Field, Cánh Ðồng Xanh, thì tôi biết. Đó là tên một bài hát nổi tiếng một thời.
Nhưng thị trấn ấy tên Green River? Hẳn là có một dòng sông xanh trôi qua?
Cô khéo chọn chỗ ở đấy nhỉ?”
Thiếu phụ mở to mắt nhìn tôi, ngạc nhiên:
“Tôi có kén chọn gì đâu! Nếu tôi được quyền chọn, chắc
chắn tôi sẽ xin định cư miền Nam Cali. Ông mới là người khéo chọn!”
Tôi ậm à:
“Thế sao? Vậy tôi đã dứt khoát chọn nơi nào để sinh sống
trên nước Mỹ mênh mông này?”
“Tôi đoán ông sống ở đây. Ấm áp, nhiều người mình quá, vui
quá, ông nhỉ? Ði trên các đường phố Nam Cali mà cứ ngỡ đang đi bát phố
Sài Gòn những chiều Thứ Bảy, những sáng Chủ Nhật. Ông có cảm thấy như thế
không, thưa ông?”
“Tôi cũng chỉ là người tị nạn mới đến ở tạm nơi này thôi. Có
thể trong một ngày không xa, tôi sẽ theo, theo… sẽ lên miền Đông Bắc. Cho
nên cô bảo tôi là người vùng này e không đúng lắm.” Ngẫm nghĩ. “Nhưng thật ra ở
đâu quen đấy, hay đúng hơn, đầu lạ sau quen. Vui buồn còn tùy. Này cô, ta hãy
trở lại câu tôi hỏi cô lúc nãy nhé. Vùng cô ở chắc có con sông xanh, Green
River?”
Người đàn bà chau mày:
“Ông nói làm tôi phải cố nhớ lại xem dòng sông ấy có xanh
hay không. Và con sông vùng tôi ở có phải là sông Green River hay
không, tôi cũng không biết nữa. Ðường sá, xóm giềng, trường học, vườn hoa, chợ
búa, tôi còn không biết tên, huống là tên một dòng sông. Nhưng hình như
con sông nào cũng thế thôi, lúc đầy lúc vơi, lúc vui lúc buồn, lúc trong lúc đục. Làm
gì có con sông xanh mãi!”
Tôi định nói có chứ, sông Hương đấy. Nhưng nghĩ không phải
lúc để tranh luận dài dòng. Vả lại, tôi cũng không hẳn đúng. Sông Hương
mùa lụt nước bạc trắng và lạnh buốt chứ đâu còn trong xanh và mát rượi
như vào những mùa khác. Còn nhớ câu nói dân gian, “Nước sông Hương, mùa
lụt lạnh thấu xương”. Hay là, như lời người đàn bà thương chồng, “Nước
lạnh như đồng, khổ lắm chồng tui”. Và khi nước nguồn đổ về trong
những cơn lụt lớn, thì con sông đó cũng đục ngầu.
Hai ba người đàn bà Mễ Tây Cơ hay Nam Mỹ con cái đùm đề ì à
ì ạch khiêng những cái túi nặng nề từ xe hơi đến, để ngay trước mặt chúng tôi,
rồi quày quả chạy tới quầy bán vé. Tôi đề nghị:
“Ði chuyến sau, 4 giờ chiều mới có xe, nên cô còn nhiều thì
giờ lắm. Hay là ta hãy dời hành lý đến hàng ghế cuối ngồi cho rộng rãi,
yên tĩnh? Lúc nào ở quầy bán vé thấy bớt người, tôi trở lại đó đổi vé cho
cô nhé.”
Thiếu phụ vui vẻ gật đầu. Tôi khệ nệ, khập khiễng – chân tôi
bị tật – xách giùm một cái túi của thiếu phụ, còn thiếu phụ thì tay xách cái bị
nhỏ lẳng lặng theo sau. Ðến hàng ghế cuối, trước khi đặt túi xách xuống đất,
tôi đứng chờ xem thiếu phụ muốn ngồi băng ghế nào. Bắt gặp thiếu phụ cười
lặng lẽ, đôi mắt là lạ như có pha chút giễu cợt. Tôi thầm nghĩ ngay rằng có lẽ
cô này thấy mình đi khập khiễng mà còn ra tay hào hiệp nịnh đầm xách giùm cái
túi khá nặng. Thiếu phụ đổi sắc mặt, vội nói:
“Cám ơn ông. Ông còn phải trở lại chỗ cũ mang hành lý
của ông đến đây nữa chứ. Ông mải lo giúp tôi lại quên cả hành lý của chính
ông rồi!”
“Tôi không có hành lý. Sáng nay tôi đi tiễn đưa một người
thân ở tòa nhà bên kia, tòa nhà dành cho xe lửa. Xe chạy rồi. Người ta đã
đi rồi. Tôi không muốn về nhà ngay, qua bên này định ngồi đây thêm một chốc…
thì gặp cô.”
Tôi có thói quen mỗi lần tiễn đưa một người thân, rất thân,
đi xa, tôi ngồi lại nơi chia tay trong một thời gian dài ngắn tùy tâm trạng lúc
ấy.
Thiếu phụ cúi mặt cười tủm tỉm:
“À ra thế. Thế mà tôi cứ tưởng… tôi cứ ngỡ là ông cũng
sắp đi xuyên bang… như tôi. Vâng, đúng thế, sau khi tiễn đưa, ta nên ngồi
nán lại một chốc.”
Tôi nghĩ thầm phải chăng cô này đọc được ý nghĩ của mình.
Nhưng tôi cũng vờ hỏi:
“Ðể làm gì vậy?”
Thiếu phụ nở một nụ cười thật duyên dáng:
“Ðể giữ lại một chút dư vang.”
Lúc còn nhỏ, chưa xong trung học đệ nhất cấp, tôi đã yêu.
Tôi giấu kín chuyện lòng của mình, không dám san sẻ với ai một lời kể cả với người
tôi yêu. Trẻ con mà bày đặt yêu với thương, nghe chướng tai quá!
Nhưng tôi cứ yêu, biết làm sao được. Một mùa hè, tôi đến nhà em học. Em? Bây
giờ nhớ lại, hồi đó tôi đâu dám gọi em là em. Anh cả của em đi học
xa, Sài Gòn Hà Nội gì đó, người anh thứ hai học trên tôi nhiều
lớp, mở lớp dạy kèm môn toán và tiếng Pháp.
Thỉnh thoảng em ghé tạt qua lớp học mang nước
trà cho anh của em uống, có khi mang đến nào đào tiên, nào ổi, nào khế ngọt,
nào dâu vừa mới hái ngoài vườn, đem vào cho đám học sinh háu ăn háu đói là
chúng tôi.
Chưa bao giờ tôi nghe em nói một lời. Em chỉ nhìn qua chúng
tôi, con mắt to, đen, sáng long lanh, nhìn mà có lẽ không thấy ai, nhìn
chung chung chứ không nhìn hẳn vào một người nào. Và cuối cùng cười
chung với mọi người để giã từ, nụ cười không phát ra thành tiếng,
chúm chím như cánh đóa hoa hồng mới nụ trên khuôn mặt trắng xanh, gầy
gầy, lạnh lùng. Em xinh đẹp và xa xôi quá!
Vâng, nước da em trắng xanh, có lẽ em biết thế, cho nên
em thường mặc chiếc quần dài đen, áo bà ba đen ngắn tay, làm nổi bật khuôn
mặt hơi gầy và hai cánh tay trần. Em trông rất đơn sơ,
thiếu thốn, những năm toàn dân đói khổ, loạn lạc ấy. Em
là của màu đen và màu trắng. Tóc đen mượt, mắt đen nhánh, quần
áo đen dịu dàng, chỉ để lộ khuôn mặt trắng và hai cánh tay trần như hai cành
non. Và hàm răng nữa chứ, những chiếc răng trắng như hạt bắp nếp nhỏ sắp
đều đặn cạnh nhau.
Vào lớp học, em mang vào tất cả ánh sáng của trời đất, của
khu vườn có nhiều trái chín ngoài kia, thơm tho. Mùa hè là mùa
trái chín mà. Rồi em quay người lặng lẽ đi không nói một lời. Phòng học bỗng
hoang vắng, tôi cảm thấy. Trong lòng lũ bạn học trẻ con của tôi có nhen
nhúm một thứ tình cảm nào đối với cô bé này hay không, có lẽ không,
nhưng riêng tôi thì khác hẳn. Lòng tôi cứ vấn vương mãi.
Rồi một hôm tôi như người bị hút hồn khi em vô tình hay cố
ý đến gần tôi và chỉ cho tôi thấy trên bàn tay em một trái ổi
sẻ khá lớn và nói khẽ, “Trái này ngọt lắm đó, có dấu chim mổ.” Nói xong,
em đem đến đặt lên trên góc bàn của anh của em. Thế thôi. Em ra khỏi phòng,
không nhìn lại tôi, trong khi tôi kín đáo nhìn theo em, trong đầu âm vang mấy
tiếng nói khe khẽ của em. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng em nói,
như nghe một điệu nhạc.
Từ đó, tôi không thể nào tập trung vào việc hoc
hành. Nhưng lẽ tất nhiên tôi cũng không bao giờ vắng mặt một buổi học
nào cả. Ngồi trong lớp học mà tâm trí luôn luôn đi ra ngoài lớp, mong
ngóng hình dáng của em.
Mùa hè năm đó của tôi chập chờn trôi
qua như một giấc mộng.
Hết hè, mọi người nao nức trở lại trường cũ, lòng không
chút vướng bận lớp học tại nhà em.
Nhưng riêng tôi, cứ mỗi buổi chiều đi học về, tôi kiếm một
cái cớ nào đó để đi qua ngôi nhà ấy. Mình đi đến xóm của em
xem thử cái tổ chim ròng rọc nằm vắt vẻo trên cây tre lá ngà cao nhất có còn đó
không. Xem mấy đoá hoa dâm bụt lấp ló trong hàng dậu trước nhà em hôm qua còn
búp nay đã nở chưa. Xem con đường xóm hôm ấy có vắng teo như mọi
hôm khác hay không. May quá, xóm cuả em hai bên lối đi là những
hàng rào tre trúc cao và rậm, bao giờ cũng vắng người. Tôi khỏi sợ bị ai
bắt gặp. Cố xem từ ngôi nhà cổ kính ấy có ai đi ra đi vào. Ít
khi tôi thấy em!
Cứ thế, tôi đi lui đi tới con xóm
đó nhiều lần mỗi chiều, nghe tiếng chó sủa nối nhau từ nhà này qua nhà khác
theo bước chân của tôi, nghe quả tim tôi đập mạnh hơn, xôn xao, bồi hồi.
Họa hoằn lắm mới được gặp em. Thế mà khi gặp, tôi làm ra vẻ lơ
đễnh, thờ ơ. Làm như tình cờ đi qua đây. Nhìn em tôi cười ngượng
ngập, không biết nói gì, không dám nói gì. Em ngạc nhiên, có pha chút vui
mừng thì phải, mỉm cười, hai con mắt đen nhánh trong
veo, dịu dàng, nhìn lại tôi. Tôi càng lúng túng, nói
ấp úng những gì tôi không hiểu nổi. Rồi tôi vội từ
giã, đi nhanh như có việc gì gấp rút cần giải quyết
ngay. Em im lặng nhìn theo.
Tôi về nhà ngẩn ngơ suốt buổi tối hôm đó và nhiều hôm sau.
Và bắt đầu biết buồn là gì, nỗi buồn ray rứt, quấn quýt, vướng vít không rời. Tôi
tự hỏi yêu phải chăng là buồn rầu, là đau khổ?
Một loạt bảy tám người đẩy cửa kính đi vào, kẻ ba-lô, người
kéo theo va-li có bánh xe lăn. Thiếu phụ thì thầm hỏi:
“Người Mễ ở đây đông quá ông nhỉ?”
“Ðúng thế. Vùng Ca-li này ngày xưa của Mễ Tây Cơ, sau bán
cho Mỹ. Hay Mỹ chiếm từ Tây Ban Nha, tôi không rõ. Nhưng không phải tất cả mấy
người đó đều là người Mễ cả đâu, tôi đoán thế. Họ có thể là người gốc
Trung Mỹ, Nam Mỹ, hoặc ở các hải đảo quanh đây. Có điều họ đều nói tiếng
Tây Ban Nha. Có lẽ họ đã quên hết tiếng nói tổ tiên của họ. Và hình như chỉ
có người Ba Tây nói tiếng Bồ Ðào Nha.”
“Thế thưa ông làm sao phân biệt được ai là Mễ, ai là Á Căn
Ðình chẳng hạn?”
“Tôi cũng chịu thua cô ạ. Ngược lại họ cũng không thể biết
ai là Việt Nam mình, ai là Tàu, Nhật, Ðại Hàn hoặc Thái Lan chẳng hạn.”
Thiếu phụ cười:
“Thế thì hòa vốn.”
Trước khi từ giã thiếu phụ, tôi nghĩ mình phải nói thêm
vài lời:
“Từ đây đến Salt Lake City, rồi Green River, cũng mất hết
năm sáu tiếng phải không cô?”
“Thưa ông, phải đến tám chín tiếng chứ.”
“Xe 4 giờ chiều khởi hành,” tôi lẩm nhẩm tính, “thì… thì hơn
12 giờ đêm mới đến Salt Lake City. Có xe đón cô vào lúc khuya khoắt ấy hay
không để còn phải đưa cô về Green River? Một mình cô, đêm khuya, thân
gái…”
Thiếu phụ ngắt lời, nét hóm hỉnh hiện lên đôi mắt:
“Nếu không có xe đến đón tôi lúc giữa khuya thì phải làm sao
thưa ông? Ông sẽ đưa tôi về nhà nhé!”
“Chắc chắn là thế!” tôi nói đùa.
Giọng nói thiếu phụ bỗng đầy vẻ giễu cợt lẫn hằn học:
“Cám ơn ông đã mở lòng từ bi chiếu cố đến tôi. Các ông bao
giờ cũng vậy, rất hào hiệp với phái yếu. Hễ thấy người đàn bà nào lọt con mắt
thì… giở trò ngay!”
Cái bà này lạ chưa, tôi tự nhủ. Tự nhiên sửng cồ! Mới
đó rất lễ phép, dịu dàng, bây giờ lại muốn gây sự đó hẳn? Bỗng thiếu phụ reo
lên:
“Ông xem kia kìa, có đến hai chiếc xe buýt đang từ từ chạy
vào bãi đậu cùng một lúc. Cầu trời một chiếc sẽ đi Salt Lake City. Nếu
thế tôi khỏi phải chờ đến bốn giờ chiều ông nhỉ. Tôi nóng ruột quá!”
Tôi quay nhìn ra ngoài bãi đậu xe. Trời bỗng âm u. Gió
lên. Hàng cây chạy dọc theo con đường cái bị gió đẩy, cành và ngọn ngả
nghiêng về một phía. Lá rụng lác đác xuống bãi đậu rồi bị gió đùn về một phía
con đường cái ngoài xa. Một chút bụi cuốn lên bay đến những ngôi nhà lân cận. Tôi
nhớ những con đường bụi tung trời mù mịt ở quê nhà mỗi lần có cơn gió lốc. Xứ
này ít bụi. Hai chiếc xe lầm lũi bò vào trông giống như hai con sâu
róm khổng lồ.
Thiếu phụ kín đáo nhìn tôi. Tôi thản nhiên im lặng, cố
tỏ ra mình không khó chịu vì câu nhận xét về đàn ông vừa rồi của thiếu phụ. Như
đoán ra điều ấy, thiếu phụ dịu giọng:
“Xin lỗi ông, lúc nẫy tôi nói gì với ông thế? Tôi nói
đùa một chút thôi ấy mà. Nói xong tôi quên ngay. Nếu tôi có lỡ lời,
xin ông bỏ qua nhé. Ðôi khi tôi giống như người điên khùng vậy, xin ông đừng
chấp mà tội nghiệp tôi lắm. Em gái tôi vẫn nói rằng tôi thỉnh thoảng lên
cơn điên, cơn khùng.”
Giọng nói của thiếu phụ nhịp nhàng, uyển chuyển như tiếng
hát. Tôi yêu giọng miền Bắc, nhất là giọng nữ, thời tôi còn trẻ. Bây giờ
tình cảm đó thỉnh thoảng cũng dấy lên trong tôi một cách đột ngột và mạnh mẽ. Như
hôm nay, nơi bến xe này. Mà giọng nữ thì ở miền nào nghe cũng dễ
thương! Miền quê tôi nghe thì thầm, thủ thỉ, miền Nam nghe thơm tho, ngọt
ngào.
Tôi nghĩ đến giọng Hà Nội “tiểu tư sản” ngày xưa. Giọng nói
đó còn không, cái giọng êm đềm của những nhân vật lãng mạn trong tiểu thuyết Tự
Lực Văn Ðoàn, những Mai, Lan, Loan, Thu, Tuyết… một buổi trưa mùa đông có
chút nắng hiếm hoi trên thành phố cao nguyên đẹp và lạnh, một mình vui chân đi
mải miết trên con đường đầy lá thông khô ven những cánh rừng thưa nắng xuyên
qua cành lá. Trời tuy nắng mà khí núi bốc lên vẫn gây gây lạnh, bỗng cơn mưa đột
ngột tới, nhìn quanh, may quá, sau trái đồi nhỏ cỏ xanh mát con mắt, thấp
thoáng một mái ngói nâu, vội chạy đến, trú mưa dưới mái hiên của một ngôi biệt
thự kiểu Tây ngày xưa còn sót lại, mưa nặng hạt dần, gió tạt nước mưa làm ướt
tóc và hai vai chiếc áo len dày, cứ thế này sẽ bị ướt như chuột lột, thì cánh cửa
bỗng hé mở, người con gái xinh đẹp xuất hiện, hơi một chút ngần ngại, “xin
mời ông cứ vào trong này ạ… không khéo mưa ướt ông hết… mời ông ngồi
tạm…”, tiếng nói nhẹ như hơi gió vừa dứt, và cánh cửa vừa khép lại thì cô
chủ cũng đi mất hút vào phòng bên cạnh, nhà vắng, bậy quá, đôi giày ướt sũng
làm dơ sàn lát gỗ bóng lộn. Ngồi nhìn vẩn vơ, trên tường có tranh Chùa Một Cột
hương khói, Hồ Hoàn Kiếm liễu rủ, Chợ Ðồng Xuân tấp nập, và tấm hình bán thân
trông thật hiên ngang trong khung kính của một sĩ quan Cộng Hòa trong quân phục
cấp tá, hẳn là chồng, hay là anh, có lẽ anh thì đúng hơn vì thiếu nữ còn trẻ
quá. Bỗng có tiếng dương cầm văng vẳng, bài Songe d’Été của một
nhạc sĩ người Pháp mình không nhớ tên, đang mùa đông lạnh mơ mùa hạ cũ, hẳn là
cô chủ nhân đang đàn dở thì biết có người đứng trú mưa ngoài hiên. Mưa đến
nhanh rồi không khéo lại đi nhanh như những cơn mưa hiếm hoi mùa đông. Mong cơn
mưa cứ tiếp tục, mong nghe thêm vài ba bản nhạc nữa. Hình như tiếng đàn lẻ, có
khi ngập ngừng, có khi buông thõng kéo dài, có khi thánh thót, có khi dồn dập,
trong một ngôi nhà lặng thinh mà thính giả là chỉ có một người ở phòng ngoài
đang lắng nghe, vẫn ngầm mang một sức cuốn hút lạ kỳ, mà cơn mưa có vẻ như sắp
tạnh rồi. Và tiếng đàn cũng theo tiếng mưa rơi ngoài kia, trải mỏng ra chầm chậm
rồi ngưng bặt. Rồi khuôn mặt hồi nãy lại xuất hiện, lần này có dịp nhìn kỹ
hơn, đẹp, đẹp, đẹp. Bên ngoài chỉ còn tiếng gió lướt trên con đường vắng và tiếng
thông reo vi vu. Tần ngần nuối tiếc đứng dậy, tiếng nói bỗng ngân lên nghe
như “những hạt châu rơi trên mâm ngọc“, nghe như những lời quyến
luyến của hai người yêu nhau sắp chia tay, câu nói đơn sơ, khách khí, và vô lý,
vì mưa đã tạnh từ hồi nào rồi: “Xin ông đợi cho tạnh mưa rồi hẵng đi”.
Tôi nhìn thiếu phụ cố tìm xem có nét gì giống nhau giữa người
đàn bà này và cô gái đánh đàn ngày xưa khi tôi trú mưa trong ngôi nhà trong rừng
thông. Nhưng tôi không thể nào nhớ được khuôn mặt của cô gái ấy thì lấy
gì làm so sánh. Tôi bật cười thành tiếng và quên hẳn cơn “sửng cồ” của
thiếu phụ. Tôi nối tiếp câu chuyện:
“Cô nói chuyện nghe vui lắm. Có gì đâu mà cô bảo lỡ lời. Phải
nói một cách thẳng thắn như cô mới dễ kết thân với nhau chứ! Này cô, hai
chiếc xe đó thuộc hãng khác. Cô phải đáp xe Grey Hound mới
có chuyến bốn giờ chiều đi Salt Lake City.”
“Nhưng nhiều xe như thế kia thì làm sao biết được xe nào là
xe của mình. Lại không biết tiếng biết tăm gì cả! Khổ thân cho tôi quá! Lần
này là lần đầu tiên tôi đi xa một mình trên đất Mỹ lạ lùng này, ông ạ.”
“Cô yên chí. Tôi sẽ chỉ dẫn rõ ràng cho cô.”
Tôi dặn dò rất kỹ về giờ giấc, xe đến, xe đi, nhưng thiếu phụ
vẫn băn khoăn:
“Trăm sự nhờ ông. Thật ra tôi cũng đã từng một thân một
mình chạy loạn. Mới đây chứ có phải lâu la gì đâu. Chắc ông còn nhớ
những ngày ta bỏ Tây Nguyên chạy về vùng duyên hải Quy Nhơn, Nha Trang. Thật là
kinh hoàng. Chạy đến Cheo Reo thì tôi không thấy chồng con tôi đâu cả. Tôi
mới biết thế nào là cảnh thân gái dặm trường. Bây giờ nghĩ đến chuyện đó tôi vẫn
thấy bàng hoàng, kinh sợ. Nay tôi cũng lại một thân một mình nơi xứ lạ quê
người đấy ông.”
Tôi an ủi:
“Trước khác bây giờ khác. Vả lại mình đang ở trên đất Mỹ yên
ổn, giàu có, thanh bình. Ðâu còn chạy giặc như ngày xưa mà cô ngại.”
Thiếu phụ rơm rớm nước mắt:
“Giàu có và yên ổn là với ai kia, tôi không hề được dự phần
trong đó. Mọi chuyện đối với tôi như mới xẩy ra ngày hôm qua, như đang xẩy ra
trước mắt. Ðâu đâu cũng thế cả thưa ông, bên nhà cũng như bên này, tôi
luôn luôn là người đang chạy loạn.”
Vâng, loạn lạc liên miên không biết ngày nào mới chấm dứt.
Cuộc chiến âm ỉ như than hồng dưới lớp tro hễ gặp gió là bùng lên thành ngọn. Làng
quê tôi biến thành vùng xôi đậu dù cách thành phố không xa mấy, chỉ khoảng bốn,
năm cây số. Cuối hè năm sau, tôi lên thành phố ở trọ để có thể yên ổn học
hành. Nhiều khi nhớ em quay quắt, dù đường sá thiếu an ninh, tôi vẫn thường tìm
cách về làng để mong được gặp em, để mong nhìn lại màu đen và màu trắng ấy – “nụ
cười trắng, đôi mắt đen”. Nụ cười mời gọi, đôi mắt níu kéo, mà
có thể em vẫn chỉ dành riêng cho tôi mà thôi, phải
không em? Hay là tôi đã quá chủ quan và giàu tưởng tượng?
Không hẹn mà vẫn mong gặp. Ước mong thật là vô
vọng!
Cho nên gần đến ngày Tết tôi lại về
làng, đánh bạo tới nhà em, lấy cớ hỏi thăm tin tức một thằng bạn
cùng học lớp hè tại nhà em cách đây hai năm. Em ngạc nhiên bảo em đâu
biết người ấy là ai, nhưng vẫn nói chuyện với tôi một cách hết sức dịu
dàng. Và đặc biệt là hình như em không giấu được nỗi vui sướng trong
lòng. Nỗi vui hiện lên trên đôi mắt to đen, trong tiếng nói êm ái ngập ngừng. Tôi
ngẩn ngơ nghe em nói mà có hiểu được gì, chỉ nhớ lời cuối cùng em nói
trước khi chia tay: “Nghe nói anh học giỏi, em… em… Sao không thấy anh về chơi.
Phố xá đông vui cho nên anh quên nhà quê rồi. Anh… anh đã quên em rồi.
Biết có còn bao giờ gặp nhau nữa hay không, hả
anh?”
Chữ “em” tôi đã nói và nghe cả ngàn lần, nhưng khi tiếng
nói đó được Trang, “em của anh”, dùng để xưng hô với tôi, tôi nghe
lạ hẳn. Nó âm vang mãi trong tôi như lời bùa chú trong chuyện thần
tiên! Thế là nay tôi đã hiểu tình cảm của em đối với tôi. “Vâng, anh sẽ về thăm
em thường xuyên nhé, tuần nào cũng về!” Tôi nói thầm câu ấy với tôi nhiều lần.
Mấy ngày sau đó, tình cờ trong câu chuyện với Tấn, bạn học
cùng lớp và là người anh họ của em, tôi được biết thêm nhiều về em. Bố làm
tri huyện rồi tri phủ tản cư về quê bị Việt Minh giết cùng với hai người chú,
em phải tạm nghỉ học một năm, phụ mẹ lo việc nội trợ và chăm sóc ngôi nhà từ đường,
để cho hai người anh có thì giờ tiếp tục đèn sách.
Tuần vừa qua, tất cả gia đình em đã dọn vào
Nam sau khi người anh cả học xong trung học tại Huế, và vừa xin
được việc làm để vừa làm vừa học tiếp tại Sài Gòn.
Tôi sửng sốt. Em và tôi chưa được nói năng gì
với nhau cho thỏa lòng. Tôi chưa hiểu hết ý em nói mà cũng không dám hỏi
cho cặn kẽ. Thì ra đấy là những lời cuối cùng em buộc lòng phải nói
cho tôi biết trước khi em ra đi. Như lời vĩnh biệt! Tôi ngẩn ngơ như
người mất hồn. Năm học ấy tôi không đủ điểm lên lớp, phải thi lại sau ba
tháng nghỉ hè.
Thiếu phụ đưa bàn tay che miệng ho khe khẽ. Như để nhắc nhở.
Cũng đủ cho tôi quay về với thực tại. Tôi nhìn quanh. Thiếu phụ dịu
dàng nói:
“Thưa ông, hình như ông đan … đang bận nghĩ gì… Tôi lại vô
ý. Nhưng, xin lỗi ông, xe grây … là grây gì?”
Tôi nhìn lại thiếu phụ, trả lời cộc lốc:
“Grey Hound.”
“Vâng, xe grây hao là xe gì?”
Tôi cau mày:
“Xe bus.”
“Vâng?”
Đến lúc này tôi đã trở lại bình thường. Và nhận ra mình hơi
thô bạo với thiếu phụ, nên, như để đền bù lại, tôi giải thích dài dòng:
“Grey Hound là tên hãng xe bus xuyên bang
có vẽ hình con chó ngao tai to và cụp, chân dài, bụng thon, gầy đét. Giống
chó săn nổi tiếng. Loại xe đường xa này phải ghé nhiều nơi để rước thêm khách
nên nó đến sớm hay trễ vài mươi phút là chuyện thường. Cô còn khối thì giờ. Khoảng
4 giờ chiều mới có chuyến thứ nhì. Quá nửa đêm cô mới đến Salt Lake City.
Liệu vào giờ đó người nhà có biết để đến đón cô không? Có thể họ nghĩ rằng
cô đi chuyến chín giờ sáng. Và đón sai giờ?”
Thiếu phụ thở dài:
“Thưa ông, tôi có nghĩ đến điều đó. Nửa đêm em gái tôi
không dám lái xe đâu. Không nói giấu gì ông, chúng tôi qua Mỹ chưa được
bao lâu, gặp chuyện gì cũng sợ. Em tôi nhỏ hơn tôi đến 10 tuổi, mới có bằng
lái xe. Còn tôi, tô … coi như đã hết thời, đã già quá rồi, học lái xe làm
gì thêm phí công phí của. Với lại có xe đâu mà lái. Tôi định bụng
như thế này, khi xe đến Salt Lake City, tôi sẽ ngồi chờ ở đó cho tới sáng rồi gọi
phôn về cho nó. Có phải không ông, cái thời của tôi đã qua rồi!”
Tôi thầm nghĩ những người đẹp vừa bước qua khỏi tuổi thanh
xuân ai cũng vờ nói mình đã già, đã hết thời, đã hết duyên, nói xong hồi hộp chờ
lời cải chính của người đối thoại. Ðã thế mình phải khen nịnh một câu cho người
ta vừa lòng. Rồi dứt khoát đi, chấm dứt cuộc gặp gỡ khá cảm động
này.
“Xinh đẹp như cô sao lại bảo thế!”
Nói xong tôi đứng dậy chào từ biệt. Thiếu phụ hơi giật
mình, cũng đứng dậy và nói lí nhí những gì tôi không nghe rõ. Bên ngoài trời bỗng
nổi cơn gió lớn, mang theo cơn mưa từ xa tới. Thiếu phụ lặng lẽ ngồi xuống ghế. Tôi
đứng lóng ngóng một chốc rồi cũng ngồi xuống cạnh thiếu phụ. Những người
đang đứng ở hàng hiên chờ xe đến đều lục tục khiêng hành lý trở vào bên trong
ngôi nhà tránh mưa ướt.
Một thanh niên Mỹ gầy, cao, da trắng, tóc vàng búi tó, mặc
quần knickers dài ngang đầu gối, tay cầm cây đàn ghi-ta,
vai mang ba-lô, theo sau là một cô gái Mỹ da đen khá xinh đẹp trong bộ jeans màu
mỡ gà, vai cũng mang ba-lô, cả hai đều bị mưa ướt ít nhiều, đến ngồi ngay trên
chiếc ghế băng trước mặt chúng tôi. Anh chàng thanh niên vui vẻ chào hỏi, tôi
chào lại. Thiếu phụ hơi lúng túng nhìn tôi cầu cứu.
“Họ chào xã giao đó mà,” tôi nói.
Thiếu phụ nhìn lại hai người và nở một nụ cười thật
tươi. Cô da đen nhanh nhẩu nói một tràng dài. Tôi giải thích với cô ta rằng
người đàn bà bạn tôi không nói được tiếng Anh.
Gió lộng lên từng cơn, mưa càng lúc càng lớn. Tôi xích
lại ngồi gần thiếu phụ hơn để có thể nghe cô ta nói, thế mà tiếng nói nghe như
thì thầm vì mưa gió ngoài kia vang dội.
“Mưa lớn như thế này không khéo ngập hết đường sá… lũ lụt. Xe
làm sao chạy được, thưa ông?”
“Không sao đâu, cô yên tâm. Vùng này mưa ít lắm. Rầm
rộ một chốc rồi tạnh ngay. Mà này cô, ở Green River cũng có nhiều người Việt
Nam mình chứ?”
“Thưa ông, ít người mình lắm và buồn lắm. Cho nên tôi mới
qua bên này theo lời một người quen để liệu xem có nên dọn nhà một lần nữa hay
không. Tức là dọn nhà qua đây. Nhớ hồi mới đến Green River, tôi chẳng khác
gì con thú bị thương. Hoảng hốt, đau đớn, và sợ sệt đủ chuyện. Ban
ngày, tôi không dám ra khỏi nhà một mình, ban đêm lấy bàn, ghế, giường, tủ chặn
nơi cánh cửa đã đóng kín và bấm khóa. Tệ hơn nữa, dù đang ở ngay trong nhà,
ngày cũng như đêm, khi em tôi đi vắng, tôi cũng không hết sợ. Nhất là khi vào
phòng tắm đóng cửa lại cẩn thận, cài chốt bên trong. Tắm xong, không dám bước
ra ngay. Đứng trước cửa hồi hộp mãi. Giá có cái lỗ nhỏ như nơi cánh cửa lớn
để dòm ra ngoài xem có ai. Tôi luôn luôn có cảm giác đang bị theo đuổi,
rình rập. Biết đâu nó đang chờ sẵn ngoài đó. Ông có biết nó là ai hay
không?”
Tôi không khỏi ngạc nhiên hỏi:
“Ủa! Nó là ai vậy, cô?”
“Là… là khó nói quá. Tôi chẳng biết có nên nói ra cho
ông biết hết mọi chuyện hay không. Ngoài ra… Hình như ở đất Mỹ này có nhiều thứ
bệnh rất lạ. Bệnh bắt cóc trẻ con, bắt người lớn, bệnh hành hung, bệnh chặt
người ta ra thành từng mảnh nhỏ, cho vào bịch ny-lông mang đi tìm nơi chôn giấu. Còn
tôi thì tôi mang bệnh khiếp sợ, ông ạ.”
Cái nhìn của tôi ngừng lại khá lâu trên cặp mắt của thiếu phụ. Tôi
không tìm thấy trong đôi mắt đó một nét giễu cợt nào như đã có lúc xẩy ra
trước đây. Nó tối sầm lại và hằn lên những nét đau khổ thật sự.
Nói chuyện với nhau khá nhiều, nhưng tôi không biết tên người
đối thoại. Cô ta cũng không hỏi tên tôi. Không như người phương Tây, gặp nhau
liền tự giới thiệu hoặc hỏi tên nhau rối rít. Có người còn bày chuyện xoắn xuýt
xin địa chỉ, tìm một mảnh giấy vụn nguệch ngoạc ghi ghi chép chép, rồi nhét đại
vào túi hành lý. Để không bao giờ tìm thấy tấm giấy đó!
Tình cờ gặp nhau, vui miệng thì nói với nhau dăm ba câu vớ vẩn
trong lúc chờ lên đường tại một bến xe, bến tàu, bến cảng, hoặc phi trường. Rồi
mỗi người đi một ngả không ngoảnh mặt lại. Trí không lo nghĩ, lòng không vướng
bận. Để không bao giờ gặp lại nhau. Như bèo giạt mây trôi.
Đấy là chuyện thường xẩy ra trong cuộc sống của tôi từ ngày
tôi lìa bỏ quê hương. Nhưng hôm nay, trước người đàn bà bất hạnh, lạ lùng, và dễ
bị tổn thương này, tôi bỗng chột dạ cảm thấy có điều gì không ổn. Không ổn cho
cô ta đã đành, mà, như bệnh truyền nhiễm, không ổn cho chính tôi. Tôi nghĩ nhiều
đến cuộc chia tay với Trang sáng sớm hôm nay.
Tôi nhìn thiếu phụ với chút xót xa:
“Không, sợ hãi không phải là bệnh đâu. Ai cũng vậy, ban đầu
nơi xứ lạ quê người, ai cũng cảm thấy sợ sệt, ngại ngùng. Ở lâu ngày sẽ
quen.”
Người đàn bà ngập ngừng:
“Thật vậy không ông? Tôi cũng mong như thế. Nhưng
tôi biết tôi không thể quen được. Họa chăng con nhỏ em của tôi còn có thể
hội nhập được phần nào vào đời sống xa lạ này. Một phần nào thôi. Ngoài
cái sợ ra, tôi luôn luôn có cảm giác mình… mìn … như hạt muối bỏ biển, sẽ tan
biến nhanh trên đất nước bao la này, không còn sót lại một chút tăm hơi nào cả. Cho
nên thế nào tôi cũng tìm cách về sống vùng Nam Cali, rồi có chết đi nữa, dù
không có em tôi bên cạnh, tôi cũng được gần gũi người cùng quê. Nhưng em
gái của tôi cứ ngăn cản tôi hoài.”
Tiếng nói của thiếu phụ bỗng dưng đầy nước mắt:
“Chị bỏ em đi em có chịu nổi không? Chỉ còn hai chị em
mình, như hai mẹ con, nơi xứ lạ quê người mà mình cứ đòi bỏ nó mà đi, cứ đòi sống
xa nhau! Khổ thân cho em của chị. Chị đoảng quá em ơi!”
Người đàn bà dường như quên hẳn tôi đang ngồi bên cạnh, ôm mặt
thổn thức, nước mắt thấm ra ngoài những kẽ ngón tay.
Tôi lặng lẽ đứng dậy đi đến quầy bán báo làm bộ dán mắt vào
những trang bìa in hình các người mẫu thân hình lộ liễu, các ngôi sao thể thao
cơ bắp cuồn cuộn, nhưng cốt là để khỏi chứng kiến một người đàn bà đang khóc
lóc nức nở. Tôi không chịu nổi cảnh tượng đó.
Bỗng dưng tôi bùi ngùi nghĩ đến Trang. Vâng, Trang của anh,
của cả một thời thơ mộng đang bồi hồi sống lại. Em ngồi một mình cạnh cửa
sổ xe lửa, nghiêng người ra đưa tay vẫy vẫy, xe chạy nhanh dần, mớ tóc bay bay
lòa xòa che khuôn mặt xinh đẹp. Và đôi mắt là lạ, và nụ cười buồn buồn của em vẫn
cứ như còn dính lên trên những bức tường, những mái nhà, những chòm cây.
Vâng, mới đây thôi, tôi đứng yên bên khu hỏa xa nhìn theo
mãi con tàu. Nó đã chạy xa khuất, để lại tôi cùng với những băn khoăn, và những
hồi ức của một thời trai trẻ.
Từ ngày em đi, tôi tìm cách kết thân với Tấn để
có thể theo dõi tin tức về em, được biết em đã đi học lại. Tôi gởi
lời thăm em qua Tấn, và thỉnh thoảng cũng được em nhờ Tấn chuyển lời thăm tôi,
với lời lẽ rất ân cần. Thế cũng đủ làm cho tôi sung sướng vô
cùng. Nhờ Tấn tôi biết địa chỉ của em tại Sài Gòn, nhưng tôi vẫn
chưa dám viết thư cho em.
Xong tú tài, tôi vào Sài Gòn học tiếp. Việc tôi làm
đầu tiên là tìm đến nhà anh của em nơi em ở. Thì được biết em đã đi Phi Luật
Tân theo học lớp Hồng Thập Tự Quốc Tế.
Xa cha mẹ, anh em, xa nếp sống kỷ cương của
đại gia đình, tôi tập làm người lớn. Tôi độc lập. Và buông thả
quá đà. Tôi như con chim hoang dã xổ lồng muốn xoải
cánh bay xa trong bầu trời mênh mông, lạ lùng, và đầy cám dỗ. Lần hồi học
đòi uống rượu, đánh bạc, nhảy đầm, và gái. Lẽ dĩ nhiên không phải thứ bạn
gái đàng hoàng để có thể trở thành tình yêu say mê đắm đuối, em nhớ giùm
cho, mà là gái điếm, gái nhảy, hoặc các nữ ca sĩ hạng ba mà nghề chính
không phải là ca hát. Cuộc sống của tôi càng ngày càng bừa bãi. Học hành dở
dang.
Nhiều khi tôi nhớ em quay quắt lẫn ăn năn, hối
hận. Tiếc thương tuổi xuân, tuổi trẻ, tuổi của thơ mộng và trong sáng, đã
trôi qua quá nhanh. Nhiều lần tôi tự hỏi có thể nào tuổi thơ mộng ấy sẽ trở lại
với tôi, có em trong đó,như nó đã trở lại với một nhân vật trong tiểu thuyết –
hắn tìm thấy lại thời gian đã mất. Thực tế có thể là vậy chăng, hay đấy chỉ là
sản phẩm của tưởng tượng? Và mỗi khi hình ảnh của em bất chợt hiện
lên, tôi cảm thấy xót xa bồi hồi như khi tình cờ, trong đêm
khuya vắng một mình, đọc lại những bài thơ tình mà mình say
mê suốt tuổi thanh xuân. Những bài thơ tình lãng mạn đẹp và
buồn.
Rồi em về nước sau khi học xong.
Gặp tôi, em không cầm được nước mắt vì sung sướng. Còn tôi thì như vừa tỉnh
thức sau cơn ác mộng Tôi đang chìm sâu xuống đáy nước. Em là chiếc phao nổi chập
chờn bên trên, đưa tay cho tôi bắt.
Tôi cảm thấy được hồi sinh. Cuộc sống từ nay
bày ra trước mắt hứa hẹn một thời kỳ mới mẻ, đẹp đẽ, êm ái trong đó
hình ảnh của em tươi sáng, lung linh, ấm áp như nắng buổi sáng sớm. Những năm
tháng vừa trôi qua của tôi dường như đang chìm khuất trong quá khứ xa xôi không
còn muốn để lại dấu vết gì. Người anh của em có vẻ hài lòng về sự “quen biết”
của hai đứa mình, thân mật mời tôi đến nhà chơi thường xuyên
hơn.
Chiến tranh bỗng nổ lớn. Hàng ngàn thanh niên trong
đó có tôi được lệnh gọi nhập ngũ. Mỗi cuối tuần em đều đến quân trường Thủ Đức
thăm tôi, trong suốt tám tháng không thiếu một Chủ Nhật nào. Cùng nhau nói nhiều
chuyện vui, chuyện buồn mà chỉ hai người mình biết thôi, hoặc là chỉ im lặng đắm
đuối nhìn nhau, rồi em nở nụ cười, rồi lòng tôi như nở hoa, rồi vui vẻ ăn uống
trên bãi cỏ xanh những món ăn ngon lành em mang đến, rồi bịn rịn chia tay. Thế
thôi.
Ra trường với cấp bậc chuẩn úy, không vây cánh, không thế
lực, không có chuyên môn, tôi bị chuyển đến một đơn
vị tiền tuyến rất xa. Một chiến sĩ bộ binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
(còn tiếp)
