(tiếp theo Kỳ 1)
Một chiếc xe bus khác bò chậm chậm vào dưới
cơn mưa nặng hạt. Mãi khi nó đến gần tôi mới thấy nó rõ. Xe đậu ngay bên cạnh
hàng hiên ướt át. Hành khách lục tục xuống xe, chạy vội vào phòng trong tòa
nhà. Vài ba người từ tòa nhà chạy ra, vội vã lên xe. Mưa đều đều rơi.
“Quái, hôm nay sao mưa lâu thế!” tôi buột miệng.
Bỗng nghĩ đến những trận mưa dầm tháng bảy dai dẳng trên một
tiền đồn biên giới xa lắc xa lơ. Bặt tin em, giới nghiêm, không còn có cách nào
để có thể liên lạc với nhau được. Rồi “Nước mất, nhà tan”. Mất tất cả, thất
lạc, tan hoang, như ong vỡ tổ. Thế mà, mới hôm qua đây thôi, lại gặp nhau trên
xứ sở này, cách xa quê cũ hơn nửa vòng trái đất. Ôi, cuộc sống xiết bao kỳ
lạ.
Tôi quay trở lại với thiếu phụ, định nói vài câu giả lả cốt
để đánh tan không khí buồn thảm mà thiếu phụ đã gây nên, mà tôi không muốn dây
dưa vào. Khuôn mặt ít son phấn đó còn lấm tấm những giọt nước mắt đã khô. Lại
nghĩ đến em, tôi lẩm bẩm nói một mình:
“Vâng rất xa. Ðơn vị đó rất xa. Rất xa Sài Gòn, em biết
không…”
“Thế ư thưa ông,” thiếu phụ dịu dàng nói. “Mà ông định
nói chuyện gì vậy?”
Tôi thảng thốt gượng cười đáp quấy quá:
“Vâng, vâng… đúng thế. Hai chị em mà chẳng khác gì hai mẹ
con sống xa nhau thế nào được.”
Mưa vẫn rơi không ngớt. Hàng cây và những khu nhà lân cận
dần dần bị cơn mưa xóa nhòa. Con đường nhựa chạy ngang đằng trước nhà ga biến
thành con suối nhỏ. Lác đác ánh đèn xe hơi nhòe nhoẹt không đâm thủng nổi màn
mưa dày đặc, trông như những vùng ánh sáng mờ mờ di động.
Thiếu phụ thẫn thờ nhìn mưa rơi, lại hình như quên hẳn tôi,
nói thì thào cho chính mình nghe:
“Mưa lớn quá! Như cơn mưa Sài Gòn hôm ấy… nước lên mãi, ngập
hết bến xe Nguyễn Cư Trinh… ngập luôn qua khu Cao Bá Nhạ. Rác nổi lềnh bềnh.
Xe tắc-xi chết máy, nước lên đến cửa kính xe, người tài xế lầm bầm kêu trời… từ
rạp Ðại Nam trở về nhà. Xem xi-nê lần cuối trước khi đi. Xin giã từ Sài Gòn,
Sài Gòn vô vùng mến yêu… Theo anh lên Vùng Hai Chiến Thuật… Mà bé thì mới hơn một
tuổi, ngủ say trên vai anh trước khi vào phim… Anh! Anh mang bé đi đâu, để lại
em một mình!”
Thiếu phụ sực tỉnh, chau mày quay nhìn tôi, ngượng ngập:
“Tôi… tôi… xin lỗi ông. Tôi sợ không biết chừng chuyến xe
chiều nay sẽ bị hủy bỏ. Mưa lớn quá! Biết tính làm sao đây. Ði hay ở? Ở
hay đi?”
Tôi nhìn thiếu phụ ái ngại:
“Mưa ở đây thường ào ào một chốc thôi rồi tạnh. Quái lạ, hôm
nay mưa khá lâu đấy. Nhưng không sao, không lâu như bên nhà đâu. Với lại đường
sá bên này tốt lắm, không bị mưa lũ làm sạt lở đất đai… Có lẽ đến trưa thì hết
mưa… Chúc cô chiều nay lên đường bình an. Tôi đi.”
Thiếu phụ nhìn tôi ngơ ngác:
“Mưa thế này mà ông vội đi sao!”
Tôi chợt nhận thấy đúng thế. Không mang theo áo mưa hoặc
dù thì từ ngôi nhà này chạy ra chỗ tôi đậu xe thế nào cũng bị ướt mèm. Thiếu
phụ nói thêm:
“Hay ông cứ đợi cho tạnh mưa rồi hẵng đi!”
Tôi ngẩn người trong giây lát. Câu nói nghe quen quá! Giọng
nói ngân nga như tiếng đàn níu kéo. Ðôi mắt gần như van lơn. Chẳng lẽ
là thế? Cũng khuôn mặt đẹp và câu nói nhẹ như gió thoảng trong ngôi nhà vắng miền
cao nguyên có tiếng đàn lẻ!
Tôi lại ngồi xuống bên cạnh thiếu phụ, mang ảo giác đây
chính là cô gái ngày xưa của thành phố ấy mùa đông lạnh căm căm dù có một chút
nắng vừa hửng lên trên con đường mòn phủ đầy lá thông khô, nắng chiếu xuyên qua
những cây thông cao ngất, cành lá sạch bóng đu đưa, lóe lên những hình sao, reo
vi vu trong gió, sau cơn mưa trưa ngắn ngủi.
Vâng, biết đâu. Chuyện gì mà không thể xẩy ra trên đất nước
đầy biến động ấy. Tôi định hỏi có phải trước kia cô có ở tại Ðà Lạt một thời
gian nào đó. Nhưng thôi, hỏi để làm gì?
Mưa vẫn rơi đều đều.
Trong những đơn vị tác chiến tôi được chuyển đến, tôi gặp
nhiều điều mới lạ mà tôi sẽ không bao giờ quên. Dần dần, giữa
tôi và bạn bè trong đơn vị nẩy nở một thứ tình cảm càng ngày càng thắm thiết.
Người ta gọi đó là tình đồng đội, tình chiến hữu. Chúng tôi thương
yêu nhau, yêu màu áo và huy hiệu của đơn vị, yêu đời lính. Và từ đó, yêu tổ quốc
hơn. Vâng, phải chia nhau từng mẩu thuốc lá lẻ khi vừa qua khỏi cơn thập tử
nhất sinh, từng giọt nước còn sót lại trong bi-đông khi cổ họng khô cháy, từng
vụn lương khô khi bụng đói cồn cào sau nhiều ngày không tiếp tế được. Phải
vực nhau dậy, khiêng nhau đi dưới những lằn đạn khi đồng đội gục ngã. Phải đắp
điếm cho nhau khi có người nằm xuống. Phải kề vai bên nhau ghì tay súng bảo vệ
từng tấc đất. Phải đổ mồ hôi và nước mắt và máu lên những luống cày, những bông
lúa, những ngọn cỏ, những sườn đồi, những đầm lầy và rừng núi, những ven sông,
những bãi biển, những con đường và góc phố, những doanh trại và những
công sự phòng thủ… thì mới biết thế nào là tình chiến hữu, là
niềm tự hào của đơn vị, là lòng yêu nước thiết tha không có gì lay chuyển
nổi.
Trong một trận đánh ác liệt ở An Lộc mùa hè năm 1972, tôi
bị thương nặng, may được trực thăng vận kịp thời đưa về điều trị tại Tổng Y
Viện Cộng Hòa ở Gò Vấp, ngoại ô của thủ đô Sài Gòn. Tôi nằm ở đó một
thời gian ngắn thì em đến.
Em đã chuyển qua học Y Khoa tại Đại Học Sài Gòn, hiện
là sinh viên ngoại trú. Em cố gắng xin được đến Tổng Y Viện thực
tập khi em biết tin tức của tôi. Ngày nào em cũng ghé đến thăm
và săn sóc tôi ít nhất một lần. Tôi nằm dài trên giường bệnh, tha hồ nhìn
lên đôi mắt to đen nhánh và rất gần của em khi em cúi mặt xuống như muốn
trao tôi một nụ hôn dù đôi mắt đó có khi thoáng buồn rầu, thoáng lo âu.
Tôi nghe hơi thở dồn dập của em, tôi nhìn nụ cười rất thân yêu của
ngày nào để lộ ra hàm răng trắng xinh xinh như những hạt bắp nếp
được sắp xếp nằm kế bên nhau đều đặn, nhịp nhàng. Chỉ có khác
ngày xưa khốn khó em mặc bộ bà ba đen, nay là cô sinh viên y khoa trong bộ y phục
màu trắng.
Em thường cắn môi để nén lòng lại khi tôi thộn
mặt nhìn em. Nhưng làm sao em giấu được biết bao nhiêu là tình ý đang trào
dâng nơi em. Những ngày nằm bệnh viện là thời gian hạnh phúc nhất trong đời
tôi. Tôi bình phục dần.
Hôm tôi xuất viện, em đến đón. Tôi nhớ rõ hôm đó máy bay
trực thăng chở thương binh tới tấp bay về. Và những trực thăng khác vội
vã cất cánh bay đi. Lại đánh nhau lớn ở nhiều mặt trận cùng một lúc.
Tiếng cánh quạt ù ù, xành xạch át tất cả mọi thứ tiếng
động khác. Hàng cây ngoài hàng rào nghiêng ngả, vật vã, lá rụng xác xơ, đám cỏ
tranh bên trong hàng rào kẽm gai nằm rạp sát đất.
Thì em đẩy cửa bước vào. Chiếc nón vải trắng nho nhỏ
nằm lệch trên mái tóc uốn thành từng lọn, cái áo choàng trắng làm nổi lên những
nét tròn lẳn của thân hình em, một mùi hương lẫn lộn phấn son, nước hoa, thuốc
men và da thịt phảng phất – tất cả cùng một lúc tràn ngập
căn phòng tôi đang nằm. Ký ức của tôi quay trở về với tuổi nhỏ ngày
xưa ở làng quê em mang ánh sáng của ngôi vườn cây ăn trái vào phòng học! Vẫn em
hôm nay. Em lớn lên khi nào vậy? Tôi không kịp khép
cửa lại, vội ôm chầm lấy em hôn đắm đuối. Em run rẩy
như ngọn lá bàng trước cơn gió mạnh. Xấp hồ sơ
em cầm trong tay rơi xuống sàn nhà.
Rồi tôi đưa em đi, không biết đi đâu, đi loanh quanh khắp
phố phường. Còn yếu, bệnh chưa khỏi hẳn nhưng phải nhường phòng cho
thương binh mới, hai chân tôi rã rời. Không lẽ cứ đi mãi, đi mãi? Tôi
đành đưa em vào một nơi mà tôi nghĩ rằng em và tôi có thể nghỉ chân
trong chốc lát, có thể âu yếm nhau tự do hơn, kín đáo hơn là ở ngoài công viên
hay trên đường vắng.
Tôi đưa em vào một phòng ngủ. Tôi không ngờ nó tồi tàn, bẩn
thỉu, hôi hám đến thế. Trước đây tôi thỉnh thoảng ghé chơi nơi này, nay nó
xuống cấp quá, thay đổi hẳn. Em và tôi vừa bước vào, thì bà chủ chứa làm
như đã quen biết tôi lâu ngày – thật ra tôi không quen biết bà này – đon
đả níu lấy tay tôi và hỏi han rối rít, “Cậu sao mấy hôm
nay không ghé chơi. Vắng cậu tôi mất hên. Tôi vừa kiếm
được một con gà mái tơ ngon lành lắm. Ô, mà cậu cũng đã kiếm
đâu ra cô em thơm phức như thế này.”
Em chau mày, răng cắn môi thành vết hằn tái nhạt, rồi nước
mắt bỗng từ từ ứa ra làm ướt đẫm cả khuôn mặt. Tôi hoảng hốt. Tôi vội vàng cầm
tay em dẫn đi ra khỏi phòng, mặc bà chủ chứa tru tréo. Em lấy khăn
lau nước mắt, đi bên tôi im lặng như chếc bóng, rồi đòi về nhà. Tôi
không biết giải thích làm sao. Trước khi chia tay, em cố gắng lấy lại
bình tĩnh, nói:
“Em sắp thi tốt nghiệp, chắc chắn em sẽ bận lắm. Không
biết có được chút thì giờ nào để đi thăm anh hay
không. Em cũng sẽ không viết thư cho anh nữa.” Ngừng nói, nghẹn ngào trong
giây lát, rồi em tiếp. “Em thi xong hẵng hay, nghe anh. Và cũng xin anh đừng viết
cho em. Anh nhớ giùm cho!”
Sau đó tôi viết nhiều thư cho em rồi xé bỏ rồi lại
viết. Tôi muốn giải thích. Mà giải thích thế nào cho ổn? Rằng tôi
không có ý xấu định làm hại đời em? Rằng tôi rất yêu em, yêu em
một cách trong sáng, xin em đừng hiểu lầm? Rằng sau nhiều tháng nằm dưỡng bệnh,
đầu óc tôi mệt mỏi lú lẩn, làm những chuyện không định
làm. Hay là rằng tôi không còn như xưa, đã quen cái thói võ
biền, bừa bãi, ẩu tả. Nhưng trong sâu xa, đối với riêng em, tôi vẫn luôn
luôn… gì nhỉ, luôn luôn quý trọng, và tôn thờ. Và rằng tôi chưa có
nơi cư ngụ dứt khoát, chưa biết về nhà nào, tình cờ đưa em đi ngang qua đó ghé
lại nghỉ chân một chốc lát thôi rồi lại đi! Rằng tôi
không có tiền để đưa em vào những nơi sang trọng khác.
Không có câu nào nghe lọt lỗ tai. Làm sao gởi những
lá thư như thế cho em được.
Thời hạn dưỡng thương tại nhà của tôi chưa chấm
dứt nhưng tôi vẫn phải trở về đơn vị chiến đấu vì tình hình chiến sự
đang sôi sục như chảo lửa. Nhớ em điên cuồng, và hối tiếc,
và giận người, giận mình, lòng nặng trĩu. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt,
càng ngày càng đi đến chỗ bi thảm cho miền Nam của mình, trong khi
tôi không thể nào kiếm được vài ba ngày phép để tìm gặp em, để có thể đối mặt với
em giải thích cho cặn kẽ.
Tôi nghĩ đến cuộc tình của chúng ta đã đổ vỡ một
cách thật trớ trêu, thật tức tưởi, trong cái đổ vỡ lớn lao và trớ trêu gấp
bao nhiêu lần của quê hương đất nước vào cuối Tháng Tư bi thảm ấy.
Hàng ngũ của ta rã rời, kẻ chết, người trốn,
người tù, người mất tích, người vượt biển. Tôi bị thương nặng, bị bắt
nhốt, không có thuốc men, không được săn sóc, không chết là may. Trong đầu tôi
còn mang mảnh đạn, một cánh tay không co duỗi được, chân đi khập khiễng, mang tật
suốt đời.
Còn em? Tôi đi tìm hoài, nhờ bạn bè hỏi giùm, vẫn không
có được một tin tức gì. Em chạy về đâu trong những ngày tan hoang đó?
“Ừ nhỉ, mưa thế này đi đâu được?” tôi nói
cho có nói. “Cô biết không, tôi đang nghĩ đến một bài học trong Quốc
Văn Giáo Khoa Thư hồi còn bé. Cái cảnh tiễn đưa, kẻ ở người đi.
Tôi nhớ cả hình vẽ minh họa: bờ sông có lũy tre, có mấy người đứng đưa tay
vẫy, đứa bé được bồng nách cũng vẫy tay theo. Ðằng xa là chiếc thuyền buồm. Tôi
không nhớ hết cả bài học đó, chỉ nhớ câu cuối, ‘Ôi! cái cảnh
biệt ly sao mà buồn vậy!’ Ngày xưa người ta thường tiễn đưa tại bến
sông, bến đò. Bây giờ khác, tôi vừa tiễn chân một người .. một người trên
sân ga xe lửa.”
Thiếu phụ có vẻ nghĩ ngợi:
“Thảo nào ông không có hành lý. Lúc nẫy ông đã nói thế
nhưng tôi nghĩ khác. Tôi cứ tưởng… Nhưng thưa ông, có lẽ ông phải nói bây giờ
ông tiễn đưa trên bến xe ô-tô mới đúng chứ. Ðây đâu phải ga tầu hỏa.
Và hình như ông vừa tiễn đưa người em nhỏ, cho nên… cảnh biệt ly cũng ‘sao mà
buồn vậy!’”
Ngẫm nghĩ một chốc, thiếu phụ nói vui vẻ tiếp:
“Cho tôi nói đùa thêm một chút nữa nhé, vì tôi bỗng nhớ một
bài hát. Nhưng tôi không hát đâu. Ai lại hát giữa nơi này, để làm trò cười cho
người ta hay sao.”
Rồi thiếu phụ nói theo lời ca của một bài hát mà tôi cũng biết:
Vẫn thế, tiếng nói của thiếu phụ nghe thật êm đềm. Tôi đáp:
“Cần gì hát. Nghe cô nói đã thấy hay quá rồi.”
“Ông quá khen.”
“Ở đây cũng có bến xe lửa đấy chứ. Amtrak là
công ty xe lửa lớn nhất nước Mỹ. Tòa nhà lớn lao này mé bên này dành cho các
hãng xe bus xuyên bang, mé bên kia nhìn ra con đường lớn dành
cho hỏa xa. Chốc nữa tạnh mưa cô có muốn tôi đưa cô qua bên đó xem cho biết
hay không? Ô, mà không được rồi. Chẳng lẽ phải mang theo hành lý lỉnh kỉnh.”
Ðôi mắt đen của thiếu phụ lóe lên một tia tinh nghịch. Người
đàn bà này kỳ quặc thật, tôi thầm nhủ. Mới rầu rĩ đó, bây giờ đã nhí nha
nhí nhảnh. Ðúng là có cơn, cơn gì nhỉ, như bà này đã thú nhận.
“Tôi lại xin đường đột nói thêm một điều nữa.” Thiếu phụ tiếp. “Phải
nói như thế này thì mới đúng hoàn toàn – Ông vừa tiễn đưa cô bạn gái, chứ không
phải cô em gái nhỏ đâu. Chữ ‘người em nhỏ’ cũng có thể dùng để chỉ ‘người yêu
bé bỏng’ đấy nhé. Ðúng hay không, thưa ông?”
Trong một bữa tiệc cưới tôi gặp lại Trang. Trang ngồi
cạnh một người đàn ông đứng tuổi, cỡ tuổi tôi, trông quen quen Cả hai người
quay mặt nhìn về phía sân khấu. Chắc là chồng của Trang chứ còn ai vào đó!
Trang ngồi cách tôi khoảng bốn bàn, đang chăm chú nghe người điều khiển chương
trình trổ tài ăn nói trước máy vi âm. Tôi đến trễ, đến vừa
lúc bữa tiệc sắp bắt đầu. Tôi cố tình đến trễ hơn hai tiếng. Tôi không muốn
ngồi chờ quá lâu nơi chiếc bàn tròn dành cho mười người mà có lẽ
tôi không quen biết ai cả. Độ này tôi ít giao du.
Vừa bước vào phòng tiệc, tôi nhận ra Trang, như đã được một
ai đó mách nước trước. Hay có một sức mạnh huyền bí giúp tôi
nhìn ra cô ta ngay trong đám người lô nhô, náo nhiệt đó. Hay đó là thần giao
cách cảm? Hình như vào thời gian gần đây tự nhiên tôi ưa tin nhảm lắm.
Trang trông lộng lẫy lạ thường dù tôi mới chỉ thoáng
thấy cái bóng dáng ấy. Chiếc áo dài màu nguyệt bạch có thêu mấy cành và ngọn lá
trúc xanh xanh nơi tà áo ôm lấy thân hình mảnh mai, cân đối; chiếc khăn
voan quàng cổ màu tím nhạt vắt hờ trên đôi vai rất
xinh; mái tóc vẫn thế, một phần che lấy một nửa vầng trán rất đẹp, một
phần chảy dài xuống ngự …
Mọi thứ chập chờn trong trí nhớ đang trổi dậy
trở lại như những đợt sóng ngầm lan tỏa. Tôi lặng người. Những hình ảnh cũ lũ
lượt trở về trong tôi, nổi bật nhất vẫn là Trang xuất hiện trong căn phòng
thơm mùi thuốc tây, mùi cồn, thoang thoảng mùi son
phấn, và mùi da thịt của em. Và vang dội từ xa là tiếng máy bay trực thăng
chiếc hạ xuống, chiếc bay lên, liên tiếp nhau ngoài bãi đáp của Tổng Y
Viện Cộng Hòa. Ô! Lại đánh nhau lớn, lại có quá nhiều người chết
hoặc bị thương.
Những trận chiến đẫm máu mà tôi từng tham dự đã xẩy ra từ
lâu lắm vẫn là những ám ảnh không rời cho tới gây giờ.
Tôi nhìn kỹ. Khuôn mặt thân yêu hơi
tái xanh, hơi gầy đi đôi chút, phơn phớt chút son phấn, thỉnh
thoảng quay sang nhìn chồng, cho tôi thấy rõ hơn đôi mắt
long lanh to và đen dưới riềm mi dài, đôi lông mày không
tô đậm cong lên nhẹ nhàng, phơn phớt, cái mũi thon thon, xinh xinh,
miệng thì chỉ mỉm cười vừa đủ để lộ một nửa hàm
răng trắng đều như hạt bắp, và mớ tóc uốn buông thõng che hết nửa
vành tai, và chảy dài xuống dưới.
Thời gian có khi không hề tàn phá nổi nhan sắc
của một số giai nhân đông, tây, kim, cổ, trong đó có Trang của tôi! Em
của anh! – Không! Không! Không! Em không còn là em của anh nữa!
Người điều khiển chương trình cao giọng:
“Tiếp theo đây chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu với qúy
vị hai người hạnh phúc nhất đêm nay, lộng lẫy nhất đêm nay, xinh đẹp nhất đêm
nay, may mắn nhất đêm nay, tốt đôi nhất đêm nay, và… vân vân. Và hôm nay cũng
là ngày lành tháng tốt nhất trong năm Mậu Dậu này, ô xin lỗi tôi nhầm, năm
Quý Dậu này. Quý vị có đồng ý với tôi không nào?”
Vài tiếng xì xầm, mậu dậu là cái quỷ quái gì. Vài tiếng vỗ
tay lác đác.
“Xin quý vị cho một tràng pháo tay thật lớn, lớn hơn nữa,
nữa, nữa! Thưa quý vị đây, đây, thưa quý vị, cô dâu và chú rể… cô
dâu và chú rể đang từ từ tiến lên sân khấu.”
Người MC bỗng ngửa mặt nhìn vào chiếc
đèn chùm rực rỡ trên trần, tay đưa máy vi âm lên cao, và gào thét thất
thanh:
“Thưa quý vị, xin tất cả quý vị cho một
tràng pháo tay thật lớn… lớn hơn nữa nào, lớn hơn nữa nữa!!!”
Tiếng trống, tiếng kèn, tiếng xập xõa, đồng thời
vang lên.
Cô dâu mặc chiếc áo dài lụa trắng có thêu hình con chim
phượng, quần cũng lụa trắng dài chấm gót, choàng bên ngoài bằng chiếc áo gấm
thêu màu hồng, đầu chít khăn vành vàng, chân mang hài xanh nạm
cườm. Tôi sực nhớ đã đọc đâu đấy khăn vành vàng chỉ dành cho hoàng hậu,
công chúa. Phi tần, mỹ nữ… thì mang khăn vành xanh, tím, nâu v.v. Chú
rể mặc bộ lễ phục màu đen, cổ thắt nơ tím, mang giày đen đánh bóng loáng, đầu
trần chải mướt. Cô dâu đặt nhẹ bàn tay mang găng trắng
lên trên cánh tay nâng ngang của chú rể. Hai người mặt mày rạng
rỡ, mắt nhìn thẳng đằng trước, nụ cười luôn luôn nở
trên môi. Hẳn là họ đã tập dượt kỹ, đi chầm chậm theo điệu nhạc mở
đầu trong bài Bridal March của Wagner vừa được ban nhạc tấu
lên nhịp nhàng.
Quan khách người thì đứng dậy vỗ tay đốp đốp, kẻ thì
ngồi giật pháo cho nổ tung tuôn ra những sợi giấy nhỏ
và dài nhiều màu, và những sợi khói mờ mờ dưới ánh đèn rực sáng.
Tôi ngồi yên chăm chăm nhìn về phía Trang, lòng lạnh lẽo, trống
trải. Vào lúc này, tôi không biết tôi vui hay buồn, mừng hay giận. Tôi chỉ
biết tôi thường làm điều tôi không định làm rồi sau đó nghĩ lại thấy tiếc nuối,
bực dọc. Chuyện cũ bỗng hiện lên trong tâm trí. Sao mình lại ngu muội
đưa em vào phòng ngủ dơ dáy đến thế! Sao không đưa em vào một rạp
chiếu bóng, cũng kín đáo vậy, cũng có thể hôn nhau tự do, trước những kẻ ngồi
sau hay ngồi bên cạnh tò mò dòm ngó, dù họ khó chịu hay không khó chịu mình cũng
mặc kệ.
Gặp em là tôi quýnh quáng, trừ một lần, phải không em. Lần
đó, ám ảnh tôi hoài. Nó lặp đi lặp lại trong ký ức. Bên ngoài tiếng máy trực
thăng, tiếng cánh quạt quay, gầm lên như bão nổi, chiếc này vừa bay đi tiếng gầm
chưa kịp lắng thì chiếc khác đã ào ào đáp xuống, hàng cây nghiêng ngả, cỏ tranh
nằm rạp bên hàng rào kẽm gai, lòng tôi cũng nổi sóng dạt
dào mà em đâu biết. Tôi ôm em hôn ngấu nghiến lúc em vừa bước vào phòng bệnh
viện. Em trong tay tôi run rẩy như chiếc lá trong gió. Xấp giấy
tờ trên tay em rơi lả tả xuống sàn
nhà.
Khi cô dâu chú rể lên đến sân khấu vừa quay người hướng
về quan khách thì Trang, như có con mắt sau lưng, quay lại nhìn tôi và nhận ra
ngay. Trang giật mình đứng dậy rồi vội vã kéo người chồng đi theo, đến
bàn tôi, nói rối rít:
“Trời ơi, anh! Anh Thạch! Anh Thạch!”
Rồi Trang lấy lại bình tĩnh, giới thiệu:
“Ðây là anh Hưng. Và đây… đây là anh Thạch mà
anh và em vẫn thường nhắc đến.”
Tôi đứng dậy bắt tay chồng của Trang. Hưng đề nghị:
“Bàn tôi còn một chỗ trống. Hay là thế này, xin quý
vị ngồi bàn này cho phép nhé. Chúng tôi lâu quá mới được gặp nhau lại,
xin phép cho anh Thạch qua ngồi bàn tôi, để chúng tôi có thể nói chuyện
dễ dàng với nhau.” Quay lại tôi. “ Lâu quá mới gặp lại anh. Anh nhớ tôi chứ.
Chúng tôi hết sức vui mừng.”
Tôi bỡ ngỡ đứng dậy bắt tay hai người ngồi hai bên
tôi dù tôi không quen, đưa tay chào chung mọi người
khác quanh bàn, và đi theo vợ chồng Trang.
“Anh Thạch này,” Trang nói hấp tấp không giấu nổi
sự hồi hộp trong lòng, “anh nhận ra anh Hưng chứ? Anh
Hưng trước kia là bác sĩ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa có đến chữa bệnh
cho anh mấy lần đó –”
Thảo nào tôi thấy quen quen. Tôi bỗng nhớ vào
thời gian ấy, đôi khi Hưng đến khám bệnh cho tôi, lần nào cũng có Trang đi
kèm.
“Anh biết không, sau khi anh xuất viện, rồi… rồi thì … chắc
anh còn nhớ. Em mong thư anh quá. Em chờ mãi mà chẳng bao giờ được hư của anh.
Sao vậy anh? Quên em hả? Tiếp liền theo đó là những ngày đánh nhau
ghê khiếp, em không biết anh ở nơi nào, đơn vị nào, để có thể liên lạc.
“Cuối cùng em bắt buộc phải theo anh của em di
tản qua Mỹ đợt đầu tiên cuối tháng tư 75 mà không thể nào biết được tin tức
gì của anh. Anh của em nói biết đâu anh cũng đã rời bỏ Việt Nam rồi. Tưởng
rằng sẽ không bao giờ gặp lại anh. Thật không ngờ! Quả là trái đất tròn.
Ô, mình còn biết bao nhiêu chuyện để nói với nhau. Ngồi đây nói
sao cho hết. Ðể em tính xem.”
Em chờ thư tôi! Nhưng tôi đâu dám gởi thư dù
tôi đã viết nhiều lá thư rồi xếp lại ném vào hộc bàn. Hay ném vào bếp
lửa. Em bảo tôi đừng bao giờ gởi thư cho em mà, anh nhớ
giùm đi mà. Quả thật tôi quá ngu xuẩn. Em nói trong lúc mất
bình tĩnh sao tôi lại cứ bám riết vào lời nói lẩy nói hờn đó. Tôi
cứ nghĩ tôi là thứ mặt dạn mày dày, nham nhở, lì lợm đối
với phụ nữ. Nhưng với ai kia, chứ trước em tôi đâm ra ngại ngùng đến sợ sệt,
không dám làm gì trái lời em dặn. Tôi nhớ đã nhiều lần đọc
đi đọc lại một bài thơ hay trong đó có câu:
Hồi còn trẻ tôi nghĩ rằng nhà thơ ấy quá nhút nhát
trước tình yêu, bây giờ tôi mới thấy rằng có những hoàn cảnh mà người
ngoại cuộc không thể nào thấu hiểu nổi. Nay ngồi cùng bàn với em trong tiệc
cưới này, tôi chẳng biết nói năng ra làm sao, ngẩn ngơ như người mất
hồn. Hưng vừa gắp món ăn cho Trang vừa nhìn tôi ân cần nói:
“Anh bị đau chân? Có lẽ bị thấp khớp?”
Ðúng cái thằng cha này có con mắt cú vọ. Mình
mới đi mấy bước từ bàn kia qua đây mà hắn đã nhận ra cái tật của
chân mình, tôi thầm nhủ.
“Không, không phải thấp khớp đâu. Bị thương nặng
hồi 75 mà không có thuốc chữa, chân tôi đã thành tật.” Tôi chẳng cần giấu
diếm, gằn từng tiếng, trả lời.
Cơn giận bỗng dưng ập tới. Giận người? Giận mình? Tôi
cau có định nói tiếp rằng tôi bị hư một cánh tay nữa; rằng trong
đầu tôi còn một mảnh đạn chưa dám đem đi mổ để lấy ra, lấy nó ra sợ lấy luôn
tính mạng của tôi, theo lời bác sĩ; rằng tôi đang hưởng phụ cấp tàn phế; rằng
tôi đã chán hết thảy mọi thứ trên cõi đời này. Tôi chỉ muốn nói một lần
cho xong chuyện, khỏi ai hỏi han lôi thôi về sau.
Hưng cười xòa:
“Ăn thua gì! Chì như anh tật một chân nhằm nhò gì!”
Hưng ngồi giữa tôi và Trang. Trang chăm chú nghe tôi nói
nhưng có lẽ tiếng được tiếng mất. Như những đám cưới khác, ban nhạc quá ồn
ào. Nói chuyện với nhau khó khăn, ăn cũng mất ngon.
“Anh qua đây với gia đình?” Hưng tiếp tục câu chuyện.
Tôi trả lời dấm dẳng:
“Không, một mình tôi thôi. Một mình từ bao lâu rồi,
từ hồi còn lành lặn, nghĩa là chưa có thương tật gì cả. Chứ bây giờ
còn nước mẹ gì nữa mà gia với đình đề huề như người khác! Tôi share phòng
với một người bạn ở khu Bolsa.”
Nói xong tôi mới thấy mình vô lý và thô bạo. Ai có
tra hỏi đâu mà phân bua, mà cằn nhằn! Hưng quay lại nói chuyện với vợ một hồi.
Cuối cùng hai người đổi chỗ ngồi cho nhau, Trang ngồi giữa tôi và chồng,
có lẽ để Trang và tôi có thể nghe nhau nói dễ dàng hơn. Tôi thầm nghĩ họ
quá tử tế so với cái khiếm nhã vừa rồi của tôi. Tại sao? Cũng có thể tại vì lối
cư xử thích làm dáng, thích lịch sự hão huyền của những người tự cho mình thuộc
giới thượng lưu trong xã hội? Tôi cay cú thầm bảo. Hay là tại vì… lòng thương hại?
Trang vui vẻ nói với tôi:
“Em tính như thế này nhé, tiệc xong anh về nhà chơi.
Em ở nhà anh Cảnh, nhà có nhiều phòng. Anh Hưng cũng đã đồng ý như thế…”
Tôi gạt ngay:
“Cám ơn anh chị. Tôi bận. Xin để khi khác.”
Trang nhìn tôi cười ngặt nghẽo chảy cả nước mắt:
“Ủa! Anh chị nào vậy hả anh Thạch? Em từ New
York bay qua đây dự đám cưới đứa cháu, con gái lớn của anh Cảnh. Gặp anh
Hưng ở đây, được sắp ngồi cùng bàn. May lại được gặp anh nữa, em mừng
quá!”
Tôi nghe. Bàng hoàng sửng sốt.
Trang ngập ngừng một hồi lâu, đôi mắt lắng sâu xuống,
răng cắn môi, vẫn hàm răng đẹp ngày xưa, vẫn khuôn mặt thanh tú nuớc da trắng
xanh nổi bật lên giữa suối tóc đen mượt mà, cuối cùng nói:
“Anh chị Cảnh có ý định rủ em và mời anh Hưng đi chơi
Yosemite mấy ngày để thưởng thức tuyết. Mà tuyết thì có gì lạ đối với em
đâu. Miền đông bắc, nơi em đang sống, năm nào mà chẳng
có tuyết! Em đã nhận lời anh Cảnh nhưng có lẽ e … em phải nghĩ lại. Có
lẽ em phải nhân dịp này thực hiện cho được giấc mộng của em là đi xe lửa từ tây
qua đông xuyên ngang nước Mỹ. Tha hồ đi qua bao nhiêu là tiểu bang, tha hồ
ngắm cảnh.”
Quay qua Hưng, Trang tiếp:
“Em đổi ý như chong chóng, anh đừng cười nhé. Chốc nữa
em sẽ nói lại với anh Cản … ngày mai em trở về New York. Ðã lỡ xin mấy
ngày phép, em sẽ tận dụng. Thay vì về bằng máy bay, em sẽ đi xe lửa. Còn
khối thì giờ mà.”
Món tôm hùm vừa dọn lên thì ban nhạc ồn ào cũng tạm ngừng. Mọi
người thở dài nhẹ nhõm. Người điều khiển chương trình vẫn chưa tha, lại lên máy
vi âm trổ tài miệng lưỡi:
“Kính thưa quý vị, noi theo truyền thống
vô cùng tốt đẹp lâu đời của ông cha ta để lại, cô dâu chú rể phải có
bổn phận đi đến từng bàn để cám ơn quý vị đã bỏ chút thì giờ
vô cùng quý báu đến đây làm cho buổi lễ hôm nay thêm phần cao quý, thêm phần
long trọng, thêm phần ý nghĩa”. Ngưng lại một khoảnh khắc ngắn, cố nhớ,
và nói tiếp. “Và đồng thời cô dâu chú rể cùng thân phụ
thân mẫu cũng xin được cùng quý vị từng bàn một chụp một tấm
hình lưu niệm đời đời của buổi tiệc cưới vô cùng quý giá này, vô cùng
tuyệt vời này, trên cả tuyệt vời này – thưa quý vị!”
Ba chữ cuối cùng, “Thưa quý vị”, được người MC gào lên thật
to, và kéo lê thật dài.
Hưng cười cười và hạ giọng nói với tôi, khỏi phải nói to
lên như nãy giờ khi bị ban nhạc quấy rầy:
“Anh qua Mỹ một mình, tôi cũng một mình qua Mỹ. Trong
thời gian tôi đi tù, vợ con tôi vượt biên và mất tích. Chờ mãi không thấy
tin tức, chắc không một ai còn sống sót.”
Tôi buộc lòng phải nói vài lời chia buồn. Hưng
nói tiếp:
“Thế mà từ đó đến nay cũng đã hơn mười
năm. Thời gian đi mau quá, phải không anh. Anh thấy tôi có nên
bước thêm một bước nữa hay không? Ở một mình cũng buồn mà đèo
bòng thêm – anh liếc nhìn Trang, hạ giọng xuống – thì…
chắc gì được… được…“
Trang ngắt lời, đưa mắt nhìn Hưng:
“Hai anh thì thầm chuyện gì vậy? Tôi nghe được hết cả
đấy. Lâu ngày mới gặp nhau tha hồ nhắc lại chuyện cũ nhé. Nhưng bây
giờ hãy bàn chuyện trước mắt cái đã. Các anh vẫn thường than phiền tiệc tùng ở
đất Mỹ mất vui vì các anh không uống rượu được nhiều. Em
thấy tội nghiệp cho hai anh quá, nhất là anh Thạch xưa nay vẫn uống rượu như hũ
chìm. Nghe nói bây giờ theo luật mới có hơi rượu mà lái xe là sẽ bị thu bằng
lái ngay. Có khi bị cho vào tù. Có phải vậy hay không hai
anh?”
Hưng đáp nhanh:
“Cô Trang nói đúng. Cô không thấy sao, anh Thạch và
tôi đâu dám đụng đến cái chai rượu. Chán thật. Mà cả bàn mình cũng
không ai dám mó tới. Vô lý, vô lý.”
Trang bỗng reo lên
“Hai anh khỏi lo, cứ tha hồ uống, em có cách. Chốc
nữa xong bữa tiệc, em làm tài xế lái xe đưa hai anh về nhà. Xe
các anh cứ để đây qua đêm, khoá lại. Sáng ngày mai nhờ người nhà chở ra đây, rồi
lái xe ra ga xe lửa tiễn đưa em luôn thể. Ðồng ý
nhé!”
Đúng như tôi dự đoán, trời quang đãng dần rồi tạnh hẳn vào
lúc giữa trưa. Tôi nghĩ rằng câu chuyện giữa và thiếu phụ và tôi đã quá dài.
Tôi không còn lý do gì để nấn ná thêm nữa.
Mà lạ thật, người đàn bà này tuồng như có một sức lôi cuốn
ngầm nào đó khiến tôi bỏ đi ngay không đành. Đó là nỗi bi thương hiện lên
trên cặp mắt khi tối tăm, lúc ảo não, lại cũng có lúc êm đềm, ngọt ngào? Là đôi
môi chợt buồn, chợt vui, nhưng ít khi mở miệng cười? Là sắc đẹp có lẽ lộng lẫy
một thời nay sắp tàn phai? Là mấy nếp nhăn mờ mờ trên trán, trên khóe mắt,
khóe miệng, khi ẩn, khi hiện. Chưa hết, còn có lối nói lúc thông minh, lúc dịu
dàng, lúc cợt nhả, lúc chua chát, lại có lúc như lên cơn điên loạn? Và giọng
nói thì du dương, êm ái, thân thiết, hoặc cay đắng, đau đớn. Và mái tóc nữa chứ,
uốn nhẹ, dài, và khá mượt mà, như cái khung màu đen mun bao lấy khuôn mặt rầu rầu.
Thế là bốn giờ chiều nay người đàn bà này sẽ một mình đáp
xe bus lên đường đi về hướng đông. Cũng sáng hôm nay, trước đó
không lâu, bên khu hỏa xa, tiếng động cơ “xục xà, xục xịch”, xe lửa từ từ lăn
bánh, cũng chạy về hướng đông. Tôi ngẩn ngơ như đang chứng kiến một cái gì hết
sức quý giá đang càng lúc càng khuất xa tầm tay với của tôi. Trang ngồi cạnh cửa
sổ xe lửa vươn người ra nhìn lại, bốn mắt chập chờn gặp nhau, mắt Trang và mắt
tôi, cánh tay của Trang đưa ra ngoài cửa xe vẫy vẫy không ngừng. Hưng rối rít
vẫy tay đáp lại, chạy theo xe một đoạn ngắn, và luôn mồm la lớn bye,
bye. Tôi đứng lừng khừng nhìn theo Trang mãi cho đến khi hết thấy.
Giờ này Trang đã đến đâu? Xe lửa có đưa Trang đi
ngang qua Green River, Salt Lake City, nơi ở tạm bợ của người đàn bà khốn khổ
này, trước khi thẳng đường lên Chicago rồi qua Nữu Ước? Có thể nào tôi gặp
lại Trang hay không? Lần thấy nhau ngắn ngủi này trong buổi tiễn đưa, phải
chăng là lần cuối cùng? Là vĩnh biệt? Tôi bỗng thấy nhói nơi tim và bỗng
dưng nhớ bệnh viện Cộng Hòa da diết. Nhớ tiếng máy bay trực thăng gào thét. Nhớ
căn phòng thơm mùi thuốc lẫn mùi môi son, mùi da thịt. Nhớ xấp hồ sơ xuống
sàn nhà. Và nụ hôn say đắm.
Trước khi lên toa xe lửa Trang nói với tôi và
Hưng:
“Khi nào rảnh rỗi, thế nào hai anh cũng phải qua em chơi
nhé. Anh Hưng thì đã biết chút ít về việc học hành của em rồi, nhưng em
cũng phải cho anh Thạch hay rằng hiện em đang thực tập tại một bệnh viện ở New
York. Nửa năm nữa là xong nợ.”
“Cô Trang giỏi quá,” tôi tiếp lời. “Qua New York học
bác sĩ để… để cho cái bằng được thêm giá trị chứ gì. Trước khi hành
nghề, cô đã cẩn thận xây dựng tiếng tăm dần dần.”
“Không phải đâu anh,” Trang vui vẻ đáp. “Mình qua đây chậm
trễ mong được làm nghề cũ đã là may mắn lắm rồi, khoan tính đến chuyện tiếng với
tăm làm gì. Trước kia em ở bên này với anh Cảnh để tiện đi học lấy bằng
tương đương. Em đã thi đậu xong mấy phần đầu nhưng còn phải học thêm và thực
tập thêm cho đủ số tín chỉ cần thiết. Muốn dễ đậu chỉ có cách đi xa… “
Tôi ngắt lời:
“Cô Trang nói nghe lạ quá, tôi chẳng hiểu gì cả.”
Trang thủng thẳng giải thích:
“Nghĩa là lấy bằng bác sĩ tại UCLA, hay Stanford của
California khó lắm. Em phải đi đến học và thực tập tại những bệnh viện tồi
tàn, hẻo lánh, ở các ngoại ô xa lắc của New York chẳng hạn, những nơi không ai
thèm tới, nơi bệnh nhân đa số là người nghèo, người da đen, người da màu. Như
thế mới dễ đậu hơn.” Trang đưa mắt nhìn tôi gần như âu yếm, ngừng lại một chốc,
rồi tiếp. “Kệ nó, mình qua đây trễ, miễn cho xong cái bằng. Hai anh liên
lạc với em đều đều nhé. Viết thư cho em – Trang lại kín đáo nhìn tôi – dài
ngắn gì cũng được. Thỉnh thoảng cũng gọi điện thoại nói chuyện cho vui. Hai anh
đừng bắt em chờ thư quá lâu nhé!”
Trang muốn tôi gởi thư? Vâng, em ý tứ lắm! Thư mới nói
được hết những gì mình muốn nói, những gì cần được bày tỏ sau khi suy nghĩ kỹ
càng. Tức là có chuẩn bị, có thêm bớt, có vo tròn, bóp méo, v.v. để cho lá
thư có thể mang lại kết quả mong muốn của người viết. Nó không hồn nhiên như lời
nói, nếu đấy là những lời nói chân thật. Nhưng ngược lại, thư mới là chứng
tích, còn lời nói gió bay. Có phải vậy không em?
Vậy tôi sẽ viết cái gì đây cho em? Đầu thư, có lẽ nên
viết ngay, “Anh yêu em lắm.” Như thế mới gây được ấn tượng mạnh. Nhưng nghe có
vẻ tiểu thuyết, dù đấy là tình yêu thật của tôi đối với em. “Anh trông chờ quá
đỗi mà không được tin tức gì của em từ ngày em đón anh tại bệnh viện, rồi… rồi
chúng ta cùng đi bên nhau…” Lại nhắc đến chuyện cũ và những lầm lỗi không thể
tha thứ của mình! Tôi đâm bối rối.
Quả thật, tôi nghĩ rất nhiều đến Trang. Lòng đau đớn khổ sở,
mà không kiếm được ngày phép để tìm Trang, để nói sao cho Trang hiểu tình huống
trớ trêu đó. Rồi biến cố dồn dập, rồi tôi bị thương nặng…
Vâng, tôi sẽ phải kể lể, tả oán cho thật lâm ly mong Trang mủi
lòng, họa chăng tôi mới có thể hạ được địch thủ là cái thằng bác sĩ kỳ đà cản
mũi này. Em không còn trẻ thơ, anh sắp già cỗi, cả hai đều trải qua bao
nhiêu lao đao chìm nổi, nay may mắn gặp lại nhau, có lẽ nên hiến dâng cho nhau
những ngày còn lại của cuộc đời? Nhưng tương lai của em sáng sủa trước mặt,
trong khi anh…
Giọng cười kín đáo của thiếu phụ đưa tôi về thực tại:
“Ông đang nghĩ gì mà thừ người ra như thế thưa ông?”
Tôi chống chế:
“Tôi nghĩ rằng trời sắp tạnh hẳn rồi, tôi sắp phải từ giã
cô.”
Thiếu phụ chau mày, mắt tối sầm:
“Thế mà tôi cứ nghĩ là ông… Nhưng, trước khi ông đi, tôi có
thể nhờ ông giúp cho một việc nữa, được không ạ. Như ông đã biết, tôi mù tịt
tiếng Anh. Tôi mạn phép mời ông tới cửa hàng đằng kia, chỗ có bán thức ăn gì
đó. Họ bán gì vậy, thưa ông… rồi mình ăn trưa. Bằng không, chiều nay
lên xe, tôi phải nhịn đói từ sáng nay cho đến khuya nay, cho đến ngày mai. Chắc
ông không biết rằng tôi không biết gọi món ăn. Tôi nói cái gì vậy, ông hiểu
giùm cho. Tôi chưa bao giờ dám vào một quán ăn Mỹ hay Mễ nào cả. Trễ xe phải
đến sáng ngày mai mới tới nhà. Rồi chuyện gì sẽ xẩy ra? Em tôi đã đi làm, tôi
vào bếp lục lọi tìm cái gì ăn được thì ăn, trong khi nó ngồi yên như con hổ
rình mồi, đưa mắt nhìn theo. A, nhưng đấy là chuyện riêng của tôi, nói ra thật
xấu hổ, thật vô duyên.”
Tôi đứng dậy nói với thiếu phụ:
“Cô cứ ngồi đây trông hành lý. Tôi đi mua thức ăn cho cô
ngay. Rồi tôi còn phải đi gấp… Họ bán gì nào? Tôi mua Sandwich,
Hamburger, và Potato Chips nhé? Và vài chai nước lọc.”
Bỗng nhiên người đàn bà cúi gập người xuống, úp mặt vào hai
bàn tay, đôi vai rung rung. Tiếng nức nở bị dồn nén. Hai hành khách ngồi
ghế đối diện với chúng tôi cúi gầm mặt xuống, dường như không muốn chứng kiến cảnh
tượng đó. Cô gái da đen bỗng ngẩng đầu lên, quắc mắt nhìn tôi săm soi, khó chịu.
Anh chàng tóc vàng kín đáo hơn, mỉm cười đứng dậy ra dấu chào tôi, rồi kéo cô bạn
gái đi đến phía tiệm ăn của nhà ga.
Tôi cũng khó chịu và lúng túng không kém, đứng lên khỏi ghế,
không biết xử trí thế nào cho phải. Sau một hồi, thiếu phụ buông tiếng thở dài,
nước mắt còn ràn rụa, nghẹn ngào nói:
“Tôi làm phiền ông quá, xin lỗi ông. Có lẽ tôi khỏi nhờ
ông mua thức ăn. Nhưng ông có thể ngồi nán thêm một chốc nữa hay không để
tôi được nói thêm đôi lời nữa. Tôi khổ tâm lắm! Tôi không muốn về với em
gái tôi nữa. Ở đấy thêm một thời gian nữa thôi, tôi sẽ chết mất. Chắc hẳn
ông không biết tại sao?”
“…”
“Vâng, tôi sẽ kể hết mọi chuyện cho ông nghe. Mà cũng lạ thật,
gặp ông có bao lâu đâu, thế mà tôi nghĩ rằng tôi có thể tâm sự với ông. Tôi có
thể nói hết mọi chuyện cho ông nghe không chút ngại ngùng… thì lòng tôi sẽ được
thanh thản một phần nào. Và biết đâu ông cũng có thể cho tôi vài lời khuyên nhủ.”
Tôi lẳng lặng ngồi xuống.
“Tôi thương em tôi lắm. Chồng con tôi đã chết hết.
Trong đời này tôi chỉ còn có em tôi. Nó nhỏ tuổi hơn tôi nhiều, nó coi tôi
như mẹ. Thế mà tôi đành phải xa nó. Tôi qua Cali tìm nhà người bạn cũ xin tá
túc một thời gian, nếu được thì ở luôn. Nhưng thấy có nhiều điều bất tiện
quá!”
Bắt đầu chú ý tới chuyện riêng của người đàn bà lạ lùng này,
tôi cố tìm cách an ủi bằng những lời sáo mòn:
“Không sao đâu cô. Dần dần mọi chuyện sẽ đâu vào
đấy. Mọi khó khăn sẽ tự nhiên trôi qua, trôi qua đi mất hết. Mọi vấn đề
sẽ tự nó giải quyết lấy. Thời gian là ông thầy thuốc chữa lành mọi căn bệnh.”
Tôi nói mà như tôi nói cho chính tôi nghe.
Thiếu phụ dường như không nghe tôi nói gì, tiếp lời:
“Ở bên nhà, người ta trải lòng với nhau mà sống, còn bên này
ai cũng thủ kỹ, ai cũng sợ chuyện bất trắc có thể xẩy đến, ai cũng sẵn sàng tử
tế với nhau dăm ba lần rồi thôi, rồi thun cổ lại trốn kín bưng trong cái mai
con rùa của mình. Có phải vậy không ông, hay tôi nói quá? Thậm chí có
người quen cũ vừa mới gặp tôi liền vội vã kéo tôi vào quán ăn ép tôi ăn một món
nào đó như để trả cho xong món nợ quỷ thần. Rồi hối hả bỏ đi quên hỏi
số điện thoại của tôi, hoặc hỏi tôi hiện giờ ở đâu, làm gì sống… Không kiếm được
chỗ ở bên này, tôi đành phải nhờ người ta mua vé cho tôi lộn về trở lại bên đấy.
Nhưng, nhưng …”
Phòng đợi bỗng xôn xao kẻ vào người ra. Lại xe đến, xe đi.
Thiếu phụ ngừng nói, dáo dác nhìn ra ngoài bãi xe đậu. Một gia đình người
Mễ Tây Cơ, hay người Trung Mỹ, Nam Mỹ, gồm sáu bảy người già, trẻ, lớn, bé đến
gần chỗ chúng tôi ngồi đặt những xách hành lý cồng kềnh, ướt át, xuống choáng cả
lối đi giữa hai hàng ghế. Họ là những người nghèo nàn, như chúng tôi, ăn mặc
nhếch nhác, tóc tai bù xù, da sạm nắng, trông khỏe mạnh, nói năng ồm ồm như chỗ
không người. Lũ trẻ thì chạy quanh quẩn nô đùa, cười giỡn, thoải
mái.
Tôi để ý rằng rất ít người Mỹ da trắng sử dụng phương tiện
chuyên chở này. Tôi bỗng nhớ Trang sáng hôm nay, xinh đẹp, dịu dàng, sang
trọng, trông như một nàng tiên lạc bước vào cõi trần ai trong đó đang có tôi mệt
nhọc, chán nản, và có người đàn bà buồn vui thất thường này. Và cũng có những
người Mễ vô tư, hồn nhiên.
Tôi tưởng phải nên nói một lời an ủi chung chung:
“Cô cũng đừng nên lo buồn thái quá. Gia đình nào cũng có
chuyện bất như ý. Rồi thời gian, như tôi vừa nói và tôi muốn nhắc lại,
sẽ là ông thầy thuốc chữa lành mọi thứ bệnh, và mọi nỗi khổ của con
người.”
Thiếu phụ quắc mắt nhìn tôi, gằn giọng:
“Nhưng ông biết gì về chuyện gia đình của tôi mà bàn ngang
như thế. Ô, ô, tôi xin lỗi ông. Tôi lại… xin ông đừng chấp.”
Thiếu phụ ngồi im một chốc khá lâu, đưa tay sửa lại mái tóc
bù rối một phần nào, như để trấn tĩnh, như để chờ phản ứng của tôi, rồi tiếp:
“Có lẽ tôi phải đem việc nhà của tôi kể hết cho ông nghe ông
mới biết được tôi lâm vào hoàn cảnh khó xử đến dường nào. Tôi khổ tâm lắm
thưa ông, nói ra thật xấu hổ. Tôi sợ một ngày nào đó em tôi biết hết mọi chuyện,
nó sẽ đau đớn vô cùng, và tôi cũng không sống nổi.”
Người đàn bà vừa mới bình tĩnh lại thổn thức, nước mắt ràn rụa
làm lem lớp phấn mỏng trên khuôn mặt đau khổ. Tôi đứng dậy loay hoay kiếm từ
trong túi quần một miếng khăn giấy nhàu nhò đưa cho thiếu phụ. Người đàn
bà cầm lấy, chặm chặm lên trên đôi mắt chớp chớp bây giờ đã đỏ hoe, buông tiếng
thở dài, và nói tiếp:
“Tôi không ngờ thằng chồng nó khốn nạn đến thế. Thằng
đó mất việc làm, ở nhà, chưa tìm được việc làm khác. Em gái tôi phải đi làm hai
việc, ban ngày đi may vá, ban đêm phụ bếp cho một tiệm ăn Tàu. Tôi ở nhà một
mình… Tôi không chống cự nổi nó. Tôi không dám thưa cảnh sát, mà cũng
không biết làm sao mà thưa cho được. Và nghĩ cho cùng, dù có thể nhờ người
nào đi thưa giùm, làm to chuyện, thì người khổ nhất vẫn là em tôi và
tôi. Nhưng cứ để yên như thế này thì chắc chắn cũng có ngày đến tai em
tôi. Cho nên tôi phải đi, phải rời khỏi ngôi nhà đó! Tôi còn có cách nào
khác nữa đâu, thưa ông. Ông là người ngoại cuộc, ông sẽ thấy rõ vấn đề hơn
tôi, xin ông cho tôi một lời khuyên nhủ. Tôi sẽ làm theo ý kiến của ông
ngay.”
Thật là trớ trêu! Tôi mà khuyên nhủ được ai! Chuyện của
mình còn rối nùi, còn hơi sức đâu xía vào chuyện người khác.
Tôi đang băn khoăn mãi vì câu chuyện giữa tôi và
Trang. Có giải pháp nào tốt đẹp hay không?
Một là mình cố nặn óc ra viết một bức thư thật dài, thật
lâm ly, nhắc lại nhiều kỷ niệm chung, mong sao khi đọc Trang sẽ xúc động mạnh,
sẽ, sẽ… Rồi mình trở lại với Trang làm lại cuộc đời. Làm lại cuộc đời
khi sắp xế bóng? Khi chưa nói rõ cho Trang biết hoàn cảnh của mình? Liệu
có nên hay không? Hai là nói thẳng với Trang rằng mình bị thương nặng đến
mang tật suốt đời, không còn “xơ múi” gì, ngoại trừ còn mảnh đạn còn nằm trong
đầu không thể mổ ra được. Sẽ là một gánh nặng kinh khủng cho Trang. Yêu
nhau đâu thấy, sẽ phụ nhau không sớm thì muộn. Thế là… có thể Trang sẽ chọn
Hưng. Nồi nào úp vung ấy, xứng đôi vừa lứa. Ba là cứ để cho mọi chuyện
tự nó giải quyết lấy, tới đâu hay đấy.
Chọn giải pháp nào đây? Hay là phải nhờ người đàn bà
này giúp ý kiến chăng, tôi cay đắng tự nhủ.
Nén tiếng thở dài, tôi chán nản nói:
“Trên cõi đời này, chuyện buồn thì ai cũng có. Mỗi người buồn
mỗi cách, chẳng ai giống ai. Không chừng hoàn cảnh của tôi còn bế tắc hơn
nhiều. Tôi đang khổ tâm lắm cô ơi. Tốt hơn hết là, giữa cô với tôi, đường ai nấy
đi, việc ai nấy lo. Nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Không nên
chĩa mũi vào việc của người khác.”
Nói xong tôi mới tự thấy mình lố bịch quá. Vẫn cái lối nói vớ
vẩn cố hữu. Thiếu phụ đã bớt thổn thức, trố mắt nhìn tôi lộ vẻ thương cảm:
“Thì ra ông cũng đang có chuyện buồn! Tôi đã đoán biết
như thế ngay từ lúc tôi mới gặp mặt ông. Trông ông… trông ông làm sao ấy.”
Tôi ngạc nhiên vì nhận xét đó.
“Cho nên, lần đầu tiên tôi… hỏi ông. Về chuyện gì nhỉ? À mấy
giờ rồi. Phải không thưa ông? Tôi hỏi chẳng qua là để bắt chuyện với ông đó
thôi. Để có thể…”
Tôi nổi giận:
“Thế à? “Thế có nghĩa là nãy giờ c … cô bịa chuyện, cô
đóng kịch cho tôi xem miễn phí?”
Người đàn bà sửng sốt, thu mình lại, lắp bắp nói:
“Ô, ô, xin lỗi ông. Nhưng tôi nói chưa hết ý… Chứ thật ra
tôi đâu tệ đến nỗi bịa chuyện để đùa cợt ông. Tôi không biết làm thế nào
cho ông hiểu được hoàn cảnh của tôi, dù tôi đã, đã… “
Không nói hết câu, thiếu phụ bỗng im bặt, cúi đầu nhìn xuống.
Đôi rèm mi dài còn ướt nước mắt chớp chớp nhè nhẹ; khuôn mặt mệt mỏi, nhợt nhạt,
buồn rười rượi; mái tóc dài chưa có sợi bạc phủ lên trên đôi vai hơi gầy.
Nhan sắc sắp tàn phai bỗng tươi lên đôi chút, chẳng khác gì tia sáng yếu ớt của
buổi chiều chợt ửng lên lần cuối trước khi mặt trời lặn xuống dưới chân mây.
Tôi lúng túng.
Chiếc xe bus Grey Hound đang từ
từ tiến vào, trên kính trước của xe có treo bản San Diego – Los Angeles. Tôi
nhìn đồng hồ, mới hơn 12 giờ trưa. Chuyến Grey Hound đi
Salt Lake City thì phải khoảng 4 giờ chiều mới tới, có lẽ cũng từ San Diego đến.
Phòng chờ và bãi đậu xe lại nhốn nháo năm, mười phút.
Cảnh tượng cũ lặp lại. Vài người đang chơi trò chơi điện tử
cạnh quầy bán vé vội rảo bước đi ra ngoài, đón thân nhân từ xe bus xuống,
rồi cùng nhau đến xe của họ đậu gần đấy, lần lượt lên xe, lái đi mất
hút. Vài người khác lại vội vàng mang hành lý đi ra xe bus đang
chờ. Một vài hành khách đang nằm ngủ trên chiếc ghế băng, ngồi nhổm dậy nhìn
ngơ ngác, rồi nằm xuống ngủ tiếp. Một số hành khách mới đến lại sắp hàng
dài trước quầy bán vé đứng chờ người bán vé vừa đi ăn “lunch”.
Tôi đến quán ăn nhà ga mua mấy món ăn và hai chai nước lọc.
Trở về thấy thiếu phụ vẫn ngồi chỗ cũ, thoáng chút vui mừng. Tôi không biết xử
trí ra sao, đành ngồi bên cạnh thiếu phụ, im lặng. Thiếu phụ mở lời trước, và
nói một hơi như thể sợ tôi ngắt lời:
“Nẫy giờ ngồi một mình tôi có dịp suy nghĩ kỹ rồi. Xin
ông giúp tôi một lần nữa nhé, thưa ông. Tôi quá đường đột, nhưng xin ông
làm ơn. Làm ơn thì làm ơn cho trót. Là… là tôi không dám về bên đó nữa. Tôi
sợ thằng em rể ấy lắm. Xin ông xem thử có thể chỉ cho tôi một chỗ share phòng
rẻ tiền gần khu người Việt Nam mình ở. Tôi muốn sống tạm bên này một thời gian,
rồi tính sau.
“Tôi sẽ đi kiếm việc làm ngay, bất cứ việc gì. Tôi biết
thêu, biết ren, biết đan. Tôi cũng may vá giỏi. Tôi cũng biết nấu
ăn. Hoặc giữ trẻ, đánh đàn cho chúng nó nghe, cho chúng nó yên giấc ngủ.
Hoặc giặt giũ, hoặc quét sân, chùi nhà, lượm rác. Hoặc chặt cá, chặt thịt
trong các siêu thị. Hoặc chăm sóc ông già bà cả. Việc gì tôi cũng làm
được. Dần dà tôi sẽ tính chuyện sum họp với em của tôi sau.”
Nghe đến đây, tôi không giấu được kinh ngạc:
“Nghĩa là trước sau gì cô cũng phải trở về cái nhà đó, sống
với…”
Thiếu phụ vội vàng nói tiếp:
“Không, không phải thế. Khi đã dành dụm được chút ít tiền,
tôi mới có thể trở lại bên đấy, tìm chỗ thuê ở riêng một mình gần nhà em tôi.
Chị em như vậy cũng coi như được sum họp. Tôi xin ý kiến của ông.”
Tôi ngẫm nghĩ. Thiếu phụ bỗng tỏ vẻ lo lắng, nói thêm:
“Thưa ông, còn điều này nữa mà thôi. Chẳng biết bên đấy có
việc làm cho người như tôi hay không. Hay là tôi sẽ nhờ em tôi giới thiệu làm ở
sóp may hay nhà hàng Tàu.”
*
Tôi đưa Thu, tên người đàn bà gặp ở bến xe đò, về ở tạm nơi
căn phòng chật hẹp của tôi thuộc khu phố Bolsa có nhiều người tỵ nạn Việt
Nam. Chỉ thêm một cái nệm mỏng đặt trên sàn nhà làm chỗ ngủ. Rồi sẽ tính
sau. Cứ thế ngày này qua ngày khác, chúng tôi sống bên nhau, trong khi đó
tôi luôn luôn nghĩ đến Trang.
Tôi viết cho Trang một lá thư ngắn ngủi, nhạt nhẽo, và giấu
kín chuyện tôi và Thu. Trang trả lời ngay, giọng thư có chút hờn dỗi. Trong
lá thư gần đây nhất, Trang cho biết Hưng sẽ qua New York chơi. Và “anh
có định qua đây chơi với em hay không? Em đang chờ anh đấy. Xin
anh cho em biết gấp!”
Tôi phân vân mãi. Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa trả lời
Trang một cách dứt khoát.
Sau đó tôi nhờ người quen kiếm được cho Thu một việc làm tại
hãng sản xuất sáo mành mành bằng nhựa, với đồng lương tối thiểu. Thu mừng
rỡ một cách tội nghiệp, vì dù sao đó là một việc làm đều đặn, ổn định, có giờ
giấc đàng hoàng, cứ hai tuần lại có một chi phiếu của hãng gởi về. Ðồng
lương tối thiểu, 5 đô-la một giờ, nhưng đối với Thu, đó là cả một món tiền lớn
ngoài mơ ước. Thu đi Mỹ theo diện em bảo lãnh nên không được hưởng phụ cấp
xã hội.
Tôi cũng tìm được một căn phòng nhỏ cho Thu thuê với giá thật
rẻ. Nhưng Thu không chịu dọn đi. Tôi không nỡ và không muốn mời Thu đi
nơi khác.
Từ đó chúng tôi sống với nhau. Lạ lùng thay, Thu rất hiền
lành, ý tứ, và dịu dàng. Chứ không phải là một người đàn bà đa đoan, sắc sảo,
tính khí bất thường, như tôi tưởng. Hay là người đàn bà này đang cố gắng đóng
trò. Tôi nghĩ rằng với thời gian, bản tính của con người sẽ bộc lộ dần dần. Hãy
chờ xem.
Thỉnh thoảng Thu muốn gợi ý về câu chuyện riêng của tôi,
chuyện lòng của cả một đời người, nhưng khi thấy tôi im lặng, Thu nói lảng qua
chuyện khác ngay.
Một hôm sau bữa tiệc cưới thằng con trai người bạn chiến hữu
ngày xưa, tôi mang về một chai rượu Martell hầu như còn nguyên. Biết tôi là con
sâu rượu, mọi người ép tôi mang rượu về nhà mà uống. Ô, mà không ai ép tôi cũng
mang nó về nhà, vì chính tay tôi đã mở chai rượu ra, rót một ly nhỏ cho tôi
thôi. Mấy thằng bạn kia đều xua tay từ chối. Tụi nó chẳng ai muốn uống rượu mạnh,
sợ say, sợ trên đường về nhà lái xe loạng quạng rủi gặp cảnh sát đuổi theo.
Có lẽ tôi phải nói thêm rằng tôi luôn luôn một mình đi ăn cưới,
hay thỉnh thoảng đi họp bạn, không mang Thu theo. Và tôi cũng chỉ giới thiệu
Thu với vài người bạn thân của tôi mà thôi. Tội nghiệp, Thu không dám, hoặc
không thèm, tỏ ý bất mãn.
Tại sao tôi cư xử với Thu như thế nhỉ? Tại vì tôi sợ
câu chuyện này mà phổ biến ra sẽ có ngày đến tai Trang? Nhưng tôi có mong
gặp lại Trang của tôi nữa đâu mà phải đề phòng cẩn thận như thế. Hả trời!
Hay là tôi vẫn nuôi chút hy vọng?
Tôi và Thu tôi sống bên nhau một cách tạm bợ. Tôi nghĩ
rằng nếu Thu tìm được cuộc sống ổn định hơn, có lẽ cô sẽ xa tôi ngay, và tôi
cũng sẽ đồng ý, không chút oán trách. Vâng, dù sao người đàn bà này cũng
còn có chút tương lai, chứ đâu phải như tôi. Tuy nhiên, trong lúc còn sống bên
nhau, Thu cư xử với tôi thật chu đáo. Ngoài thì giờ đi làm ở hãng, cô đi
chợ mua thức ăn, nấu ăn ngon, nhà cửa dọn dẹp ngăn nắp, sạch sẽ, áo quần của
tôi Thu giặt giũ, ủi, xếp gọn gàng. Cái bàn nhỏ rất bừa bãi của tôi cũng
được Thu để mắt chăm nom cẩn thận. Bàn tay phụ nữ thật kỳ diệu!
“Ăn cưới vui không anh? Lại mang rượu về! Ðể em
xem nào .. có con cá chép thật tươi ngày mai em làm món gỏi mà anh ưa
thích. Anh tha hồ nhậu nhẹt với anh Chấn đấy nhé.”
Tôi cao hứng:
“Nó đang tươi rói thì phải ăn ngay. Chờ đến ngày mai hết
ngon, phí của. Em làm đồ nhắm ngay bây giờ đi, rồi em nhậu với anh.”
“Nhưng em không biết uống rượu.”
“Không sao cả. Anh tập em uống.”
“Nhưng anh cũng vừa ăn cưới xong?”
“Có sao đâu. Bây giờ anh nhậu với em chứ có phải ăn đâu mà
lo.”
Thu cười duyên, nói:
“Ủa, ăn và nhậu khác nhau, em đâu biết.”
A, phải rồi, cô này không biết uống rượu, chưa hề nhậu nhẹt
với tôi. Nhưng lo gì, cứ ép là cô chiều ý mình ngay. Thu luôn luôn ngoan
ngoãn vâng lời mà. Vả lại trong tiệc cưới mình chỉ mới uống một ly
Martell.
Vâng, tiệc tùng thì cũng chỉ được uống chút chút thôi, là vì
đâu có Trang, để Trang của tôi, để em của anh, xinh đẹp, quý phái, trong veo
như nàng tiên chưa gãy cánh lọt xuống trần ai đầy khổ lụy này, lái xe đưa anh về
nhà, để em bảo anh ngồi ghế trước kề bên em, để em hỏi anh thật nhiều chuyện
cho thỏa lòng tò mò, em nói thế nhưng thật ra đấy là cho thoả lòng mong nhớ. Kìa
anh Hưng, chịu khó ngồi ghế sau nhé. Hay là anh Hưng có muốn công bằng thì hai
anh cứ oánh tù tì đi – tiếng nói trong veo, quen thuộc và thân yêu từ thời thơ ấu
của em nghe như lời ru của quê hương, của dòng sông, dãy núi, của vườn cau, vườn
chuối, vườn cây có nhiều trái chín mùa hè, của sương, của gió, của mưa, của nắng,
của suối, của nguồn, của mây, của nước… của mẹ xa xôi.
Ngồi uống rượu với Thu mà tôi nhớ Trang muốn rơi nước mắt.
Thế là lần đầu tiên tôi và Thu cùng uống rượu đối ẩm thân mật
với nhau tại căn nhà tiều tụy này. Rót ra hai ly, cho đầy soda và
đá cục vào, rượu vàng sóng sánh, cụng ly kêu cái keng, đàng hoàng.
Thu cố nhấm nháp chút ít để chiều lòng tôi. Cô nàng uống mãi
mà không hết ly của mình. Uống xong một ngụm nhỏ, nàng thun vai, nhăn mũi,
chau mày. Hai má cũng đỏ hồng lên, trông thật ngộ, và cũng đẹp đấy chứ. Cũng
còn nhan sắc đấy chứ. Trông hấp dẫn quá! Nhưng mình có còn “xơ múi” gì hay
không? Biết đâu!
Tôi hết ly này đến ly khác. Anh ơi, thôi anh đừng uống
nữa. Mà anh phải ăn vài miếng ăn cho nhả rượu đi. Cá em hấp có vừa miệng anh
hay không? Vừa, vừa lắm chứ. Em nói gì vậy? Không, không sao đâu em, lâu lắm mới
được say sưa bên em. Thu… Trang…Trang… Của anh?
Chai rượu mạnh đó dần dần không còn một giọt. Tôi nói
chuyện huyên thuyên không chút giữ gìn. Rượu vào lời ra, chắc là Thu nghĩ
như thế. Ðược thể, Thu xa xôi gợi lại câu chuyện cũ mong tôi “thành thật
khai báo” mọi thứ. Tôi cũng mượn hơi rượu nói lè nhè mặc Thu muốn hiểu thế
nào thì hiểu:
“À, người đẹp mà anh tiễn đưa ở bến xe lửa, ờ, ờ, ở ‘ga tầu
hỏa’ đó hả. Em nói đúng, đâu phải em gái của anh. Phải nói đó là cô bạn
gái của anh như em đã đoán… Ðàn bà đoán có bao giờ sai đâu! Em biết
không, đàn ông bọn anh ai cũng thế cả, cá mè một lứa. Ai mà không muốn ôm ấp
trong tim hình bóng một người tình tưởng tượng. Tưởng tượng thôi
nhé! Nhưng anh khác, anh không cần phải tưởng tượng hay mơ mộng lôi thôi,
là vì… là vì anh đã có Thu của anh đây.”
Thiếu phụ ngồi yên lắng nghe, thỉnh thoảng cười nhẹ,
dịu dàng, như muốn khuyến khích tôi nói thật nhiều.
“Thu, ôi mùa thu của đời anh! Chứ chưa phải là mùa
đông! Ðời anh đã cuối đông chưa? Nè, nè, mới gặp em, trái tim của
anh đã muốn nhảy ra khỏi lồng ngực… Ðừng! Ðừng vội phản đối, đó là sự
thật đấy. Bằng chứng là nhờ vậy mà bây giờ đây anh và em đang ngồi bù khú
bên nhau như thế này. Hả? Cái gì đó nữa? Ngoài em anh còn yêu ai
nữa chăng? Không còn ai nữa… Thật đấ … Ừ thì còn… còn lu bù, nhưng rồi có
lẽ cũng chẳng đi đến đâu, phải không em. Chỉ có em, anh không bao giờ
quên. Gặp nhau rồi xa nhau rồi gặp nhau rồi xa nhau, cứ thế biết bao nhiêu
lần! Số kiếp đã buộc mình vào nhau từ hồi còn tấm bé, phải không em. Thế mà…
anh say, nói bậy. Thế sao? Chỉ gặp em một lần ngoài bến xe đò thôi
à? Em khỏi cần nhắc anh cũng nhớ rõ, em, nhoài người ra, tay vẫy vẫy,
vâng, em sẽ đi về thành phố có con sông xanh, một mình, đêm khuya không ai đón.
Tội nghiệp em quá…”
Thu không tỏ vẻ sốt ruột, kiên nhẫn ngồi chờ tôi ngồi gật gà
gật gù nói ba hoa, kè nhè. Rồi Thu chậm rãi tiếp lời:
“Anh ơi, em muốn… mà… cứ bộ say… lãng. Đúng vậ … hay
anh khác? Nhưng có điều này thì đã… như con bướm đóa hoa này… và
kia. Còn em đàn bà… thế đó. Em … đã nhiều… cầu mong… thân một nơi, một
chốn…”
Tôi nghe Thu nói, tiếng được tiếng mất, không hiểu gì mấy.
Cơn say đã đến với tôi êm đềm, dịu dàng. Không hung hãn, thô bạo, đâu em.
Rồi nó sẽ dần dần đưa tôi vào giấc ngủ vùi.
Tôi lại bần thần nhìn Thu. Dưới con mắt đờ đẫn và mệt lả,
trông cô ta mờ mờ, ảo ảo, như hồ ly tinh trong chuyện liêu trai, trong đêm tối
mù mịt. Tôi vói tay cầm cái chai không, dốc ngược lên chơi, không còn một giọt
rượu nào cả. Còn thèm hả? Chưa đã hả? Rồi đặt nó xuống cạnh mép bàn. Nó nghiêng
nghiêng, xiêu xiêu, muốn lăn xuống đất. Tôi chụp lại được, lại cầm chai lên làm
bộ dốc dốc, uống uống, rồi chìa ra mời Thu, miệng lè nhè nói cái gì không nhớ nổi. Thu
vớ lấy cái chai, đặt nó xuống dưới gầm bàn, không nói một lời. Và quay lại nhìn
tôi bằng đôi mắt là lạ tôi chưa hề thấy từ khi tôi gặp Thu ngoài bến xe cho đến
bây giờ. Thu ơi, tôi không thể nào hiểu nổi.
Oán trách? Thương hại? Khinh bỉ? Hay yêu?
Tôi lảo đảo đứng dậy, bước lui, rồi bước tới, rồi bước lui,
cạnh cái bàn nhỏ, đảo mắt tìm tòi… Tìm cái gì chẳng rõ. Tìm chai rượu chăng?
Thu ngồi yên trố mắt nhìn theo. Tôi có cảm giác như đang từ trên một trực thăng
sắp đáp xuống một bệnh viện … chao qua chao lại mấy lần… có tiếng đạn đâu đây
bay vèo vèo… cỏ tranh ngã rạp về một phía hàng rào kẽm gai.
Mà đầu óc thì chứa đầy mưa phùn, sương mù, và hơi rượu.
Ngày mai, sau cơn say, anh sẽ viết lá thư đầu tiên cho em.
