03 September 2026

CHÂN TRỜI GÓC BỂ (2 hết) - Việt Dương

(tiếp theo kỳ 1)

7

Đầu năm 72, đại đội 237 được thuyên chuyển đến xã Hương Cần, quận Hương Trà. Hương Cần nằm ở vùng đồng bằng sông Bồ, cách Huế khoảng 8 cây số. Từ Huế trên quốc lộ Huế – Quảng Trị, đi qua trường trung học Hương Trà, có đường trải nhựa rẽ vào bên phải, đi giữa cánh đồng lúa, đó là đường vào Hương Cần. Sông Bồ tới đầu xã, tách ra một nhánh nhỏ chảy ngang phía trước xã, nhánh sông nhỏ nông, nước trong nhìn thấy đáy là nơi tắm giặt của dân trong xã. Bộ chỉ huy đại đội chọn một ngôi nhà gạch để ở ban ngày. Hương Cần có hai thứ đặc biệt, thứ nhất là quít, rất nổi tiếng, vỏ mỏng, thơm, ngọt thanh. Quít Hương Cần, nghe từ lâu, nay Nhân mới được đi tới tận nơi, vào những vườn quít trĩu quả và ăn quít mới hái trên cây. Thứ nhì là nghề chằm nón. Ban ngày vào nhà nào cũng thấy vài cô ngồi với cái nón trước mặt. Vì thế, con gái Hương Cần có vẻ đẹp hiền dịu và rất trắng. Xã ở giữa cánh đồng có sông bao bọc và vườn cây trái. Ban ngày ngồi ở hiên nhà nhìn ra dòng sông ngay phía trước với những cô gái óng ả ra sông giặt, Nhân cảm thấy mình được thư thả sống ở một miền thanh bình, nhưng ngay lúc này ở miền bắc Quảng Trị đang diễn ra trận chiến giữa quân Cộng sản Bắc Việt và quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Qua đài BBC và báo chí, Nhân biết ngày 30/3/1972, với quân số trên 30.000 và trên 200 chiến xa T54 và T59, Cộng Sản Bắc Việt đã công khai vượt vùng phi quân sự tấn công chiếm các căn cứ hỏa lực của ta ở vùng giới tuyến. Sư đoàn 3 bộ binh của ta yếu thế. Dưới màn mưa pháo 130 ly và hỏa tiễn 122 ly, mỗi ngày ta mất thêm nhiều căn cứ. Ngày 2/4, trung đoàn 56 thuộc sư đoàn 3 bộ binh kéo cờ trắng đầu hàng. Các tiểu đoàn 2, 5, 9 Thủy Quân Lục chiến bị pháo kích vùi dập.

Ngày 2/5 sư đoàn 3 bộ binh cùng lực lượng tăng phái rút lui hỗn độn khỏi thị xã Quảng Trị, chạy về phía nam sông Mỹ Chánh. Lữ đoàn 369 Thủy quân lục chiến và quân Dù chận địch tại sông Mỹ Chánh và Công binh phá sập cầu Mỹ Chánh ngày 3/5.

Khi sư đoàn 3 Bộ binh tháo lui hỗn độn, dân Quảng Trị cũng kéo nhau chạy theo quân về Huế. Còn dân Huế hoảng hốt chạy vào Đà Nẵng. Huế hỗn loạn, đám gây rối đốt chợ Đông Ba làm tăng thêm sự hoảng loạn. Người ta đồn nhau Huế mất đến nơi. Giữa tình thế hoảng loạn đó, ngày 3 tháng 5, Trung tướng Ngô Quang Trưởng được cử giữ chức Tư lệnh Quân Đoàn I thay thế trung tướng Hoàng Xuân Lãm. Sau khi nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I, tướng Trưởng đã nhanh chóng thực hiện nhiều biện pháp quân sự cứng rắn để vãn hồi tình thế. Những biện pháp đó có thể kể như sau:

Thiết lập quân luật nghiêm khắc:

Để ngăn chặn tình trạng đảo ngũ, tướng Trưởng ra lệnh bắn tại chỗ những binh sĩ đảo ngũ, cướp bóc hoặc gây rối loạn trật tự công cộng. Ra lệnh cho Cảnh Sát Dã Chiến và Quân Cảnh lập các chốt kiểm soát trên các trục đường chính từ Huế vào Đà Nẵng để thu hồi vũ khí và tập hợp binh sĩ chạy theo gia đình

Ổn định tinh thần dân chúng và binh sĩ:

Ông dời Bộ Tư Lệnh Tiền Phương ra Huế để khẳng định quyết tâm giữ Huế. Sự hiện diện của ông tại Huế đã giúp yên lòng dân, ngăn dòng người chạy ra Đà Nẵng và khôi phục niềm tin của các đơn vị quân đội đang hoang mang.

Tái tổ chức lực lượng:

Các binh sĩ thất lạc đơn vị được lệnh trình diện tại các địa điểm tập trung trong 24 giờ. Những người không tuân lệnh bị xem là đảo ngũ và sẽ bị xử lý theo quân luật thời chiến.

Tổ chức lại lực lượng phòng thủ:

Tướng Trưởng sắp xếp lại những đơn vị quân đội bị tan rã sau khi Quảng Trị thất thủ. Ông củng cố tuyến phòng thủ tại sông Mỹ Chánh bằng lực lượng Thủy Quân Lục Chiến và Dù để ngăn chặn đà tiến của Cộng quân.

Nhờ những quyết định nghiêm ngặt với uy tín sẵn có, tướng Trưởng đã thành công trong việc ổn định tình hình tại Huế chỉ trong thời gian ngắn, đem lại sự ổn cố của cả vùng I, tạo thế cho cuộc phản công chiếm lại Quảng Trị.

Theo lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tái chiếm Quảng Trị, tướng Ngô Quang Trưởng thực hiện cuộc tái chiếm bằng chiến dịch Lam Sơn.

Ngày 28/6, sau các đợt  bom B52, và oanh kích của phản lực cơ Mỹ, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù vượt sông Mỹ Chánh, tiến lên phía bắc, lấy quốc lộ 1 làm ranh giới, phía đông thuộc vùng trách nhiệm của sư đoàn TQLC, phía tây thuộc vùng trách nhiệm của sư đoàn Dù. Hai sư đoàn TQLC và Dù tiến chiếm lại những khu vực đã bị Cộng quân chiếm.

Trong giai đoạn đầu cuộc phản công thuận lợi cho Quân Lực VNCH.

Quân Bắc Việt lui về cố thủ quanh thị xã Quảng Trị và Cổ Thành.

Cuộc tái chiếm thị xã Quảng Trị đã gây cho hai bên nhiều tổn thất vì quân ta đã phải chiếm từng căn nhà và khi Cộng quân lui vào cố thủ trong Cổ Thành thì trận chiến trở thành xương máu trong 81 ngày.

Tiểu đoàn 8 TQLC nhận lệnh phải chiếm quận Triệu Phong bằng mọi giá, đó là trọng điểm, vì có tuyến vượt sông Thạch Hãn hàng đêm của Cộng quân đem tiếp tế cho các đơn vị đang cố thủ trong Cổ Thành.

Tiểu đoàn 8 hoàn thành nhiệm vụ cắt đứt hoàn toàn tuyến đường vận chuyển tiếp liệu, lương thực cho quân Bắc Việt, tạo điều kiện cho các tiểu đoàn 3, 2, 6 TQLC tiến chiếm Cổ Thành ngày 15 tháng 9, 1972.

Sau khi quân ta chiếm lại Quảng Trị chừng 1 tháng, đại đội 237 được lệnh rời xã Hương Cần đi quận Phú Lộc. Được nghỉ hai tuần trong quận lỵ, đại đội phải lên căn cứ trên đỉnh Bạch Mã thay thế cho đại đội 283. Từ nhiều năm trước đại đội 237 đã trấn đóng nhiều căn cứ từ Ba Lăng, quận Phú thứ, rồi Lương Mai quận Quảng Điền, tới Vinh An quận Phong Điền. Những căn cứ này ở đồng bằng bên cạnh làng quê. Đây là lần đầu tiên đại đội lên trấn giữ một căn cứ trên đỉnh núi. Nhân biết Bạch Mã là một nhánh Trường Sơn chạy ra biển. Ở độ cao gần 1500 mét so với mặt biển, Bạch Mã có khí hậu mát quanh năm như Đà Lạt. Nhưng khác Đà Lạt, Bạch Mã là một ngọn núi cao ở sát biển, nên cảnh sắc ngoạn mục bên núi bên biển. Từ Vọng Hải Đài do người Pháp xây dựng có thể nhìn toàn cảnh núi rừng quanh Bạch Mã, thấy biển Lăng Cô, biển Cảnh Dương, đèo Hải Vân, phi trường Đà Nẵng và Phú Bài. Ban đêm nhìn thấy ánh điện của Đà Nẵng và Huế. Ngoài cảnh núi non, rừng rậm, Bạch Mã có một cảnh tuyệt sắc là thác Đỗ Quyên, cao trên 300 mét, dòng nước trắng chảy theo triền đá, gọi là thác Đỗ Quyên vì ở khu vực thác có những cây đỗ quyên, mùa xuân trổ hoa đỏ rực. Cảnh sắc ngoạn mục như thế, nhưng từ năm 1973, Việt Cộng không để cho căn cứ Bạch Mã yên mà thường pháo kích, mỗi lần trên dưới 20 trái đạn súng cối 61 ly và cô lập căn cứ bằng cách kiểm soát đường lên Bạch Mã. Vì thế căn cứ đã phải tiếp tế bằng trực thăng. Đến đầu tháng 9/73, căn cứ bị tấn công và chỉ sau nửa giờ căn cứ bị tràn ngập, Cộng quân nhào vào căn cứ, ném lựu đạn vào các hầm. Trái lựu đạn quăng vào hầm Bộ chỉ huy đại đội không nổ, nên Nhân sống và bị bắt.

8

Nhân đang chăn bò phía sau trại tù Bình Điền thì có anh Công an ra bảo cho bò về chuồng, rồi trình diện cán bộ trực trại.

Khi Nhân tới văn phòng trực thì cán bộ trực bảo: Anh có thân nhân tới thăm. Trại cho phép anh ra khu thăm nuôi và được gặp thân nhân trong 1 tiếng.

Nhân nói: Cám ơn cán bộ – Rồi đi ra khu thăm viếng. Vừa bước vào nhà khách, anh nhận ra Mai và nàng cũng đứng dậy bước ra. Cả hai không nói nên lời, chỉ cầm tay nhau, rồi Mai tới ngồi bên anh công an, còn Nhân ngồi đối diện qua cái bàn dài.

Anh Công an đứng lên nói: Anh chị được gặp nhau trong một tiếng. Gần tới giờ tôi sẽ tới báo. Bây giờ anh chị tự do chuyện trò – rồi anh ta cầm một gói lớn bước ra.

Nhân đưa tay nắm tay Mai: Sao biết anh ở đây?

Mai đáp: Em gặp vợ thiếu úy Ngọc ở chợ Đông Ba. Thời anh còn ở căn cứ Đại Lộc, chị Ngọc đến thăm anh Ngọc thường ở nhà em. Răng anh không viết thư cho em?

Nhân nói: Đời tù đày coi như đã chết, nên anh để em yên.

Mai giọng ngậm ngùi: Em tin là anh vẫn còn sống, nhưng chỉ không biết đang bị tù ở mô.

Nhân nói: Anh ở Hương Cần cả năm, suốt biến cố Quảng Trị. Khi quân ta chiếm lại Quảng Trị một thời gian ngắn thì đại đội chuyển ra Phú Lộc, rồi lên trấn đóng trên căn cứ Bạch Mã, cũng được gần một năm thì căn cứ bị tấn công. Lực lượng của các ông ấy quá lớn, nên đại đội chống không nổi, chịu nhiều thiệt hại và anh bị bắt.

Mai nói: Theo lời của các ông ấy thì đại đội 237 đã bị diệt gọn. Em ra quận Phú Lộc hỏi thì mấy ông ở quận trả lời là trung úy Nhân bị bắt.

Nhân nói: Thiếu úy Ngọc may là đã đổi tới đại đội khác, và Đới hôm đó đi phép.

Mai nói: Sau ngày đại đội bị tấn công, chú ấy đến cho em biết là anh bị bắt và lính chết trên 2 chục, bị thương trên chục với ông đại đội phó. Các ông trung đội trưởng nằm giả chết với lính nên sống cả.

Nhân nói: Vậy thì tốt. Lâu nay anh vẫn nghĩ số chết lớn hơn nhiều.

Mai hỏi: Rứa họ giam anh ở những chỗ mô?

Nhân ngẫm nghĩ một lúc: Giai đoạn đầu họ đưa anh vào Trường Sơn, tiếp đó ra Bắc, rồi trở vào Đông Hà, Quảng Trị. Nhiều nhà tù quá nên không nhớ được. Sau 30 tháng 4, 75 chừng một năm, được chuyển đến đây.

Mai hỏi: Phải đi lao động cực nhọc không?

Nhân đáp: Ở những chỗ trước kia thì lao động cực khổ. Về đây giai đoạn đầu phải đi lao động thì vất vả, sau một năm, được các ông ấy cho đi chăn bò nên cũng đỡ – Nhân nói nhỏ: Kỳ sau đi thăm anh, em đừng vào trại mà đi ra phía sau trại, chỗ có mấy cây bằng lăng cao. Anh thường ngồi dưới gốc mấy cây đó. Nhớ đem ít đồ để anh dễ đem vào trại – vừa nói vừa chỉ vào cái túi vải Nhân để đồ ăn, nước uống.

Mai hỏi: Có sợ họ bắt gặp không?

Nhân đáp: Các ông ấy không ra đó làm gì. Sáng dắt bò ra khỏi chuồng, chiều dắt bò vào chuồng, cả năm nay như thế rồi. Thấy bò lông mượt, con bê lớn nhanh, họ khen là anh khéo chăn bò – Nhân ngừng lại một lát, rồi hỏi: Còn gia đình em bây giờ ra sao, chắc thay đổi nhiều?

Mai đáp: Ba em chừ làm bí thư huyện Hương Điền, mạ tham gia Hội Phụ Nữ. Em vẫn bán tạp hóa, bán cà phê. Hai việc này kiếm ăn được anh ạ.

Nhân nhìn Mai một lúc: Em không thay đổi nhiều. Buôn bán tốt, ngồi trong nhà nên người cũng đẹp. Vẫn là cô gái hái dưa leo dưới căn cứ Đại Lộc. Trước kia chúng ta không thể lấy nhau. Bây giờ cũng thế. Anh cám ơn em, nhưng phải nhắc em là đừng để chết già như anh. Đời người ngắn ngủi.

Mai nói: Chết già cũng được. Em phải buôn bán để kiếm tiền, nhưng đời sống không có chi vui. Chừ em biết anh ở đây, mỗi tháng đến thăm anh cho đến khi mô anh được ra. Sĩ quan bị tù được tha nhiều. Chắc anh cũng không lâu nữa. Em mừng là anh khỏe mạnh. Tù khắp nơi như rứa mà không bị bệnh là quá may. Mai coi đồng hồ: sắp hết giờ rồi.

Nhân nói: Anh Công an này tốt thật, cho mình được nói chuyện tự do.

Mai nói: Em cho anh ấy 2 bao Samit, một gói gồm bánh in, bánh đậu xanh và mè sửng. Cho họ ít quà để họ dễ dãi với mình.

Nhân đứng dậy định qua hôn Mai, nhưng thấy anh Công an đi qua sân nên ngồi xuống.

Anh Công an bước vào nói: Đã hết giờ thăm. Anh thu xếp vô trại.

Nhân và Mai đứng dậy ra khỏi bàn. Mai nói: Cám ơn cán bộ, rồi quay sang Nhân: Anh ở lại khỏe mạnh. Tháng sau em lại tới thăm.

**

Mai xách một cái giỏ, đi men theo đồi ra phía sau trại tù Bình Điền. Từ xa nàng đã nhìn thấy mấy cây bằng lăng cao, nên đi về hướng đó.Tới nơi thấy Nhân nằm ngửa trên cỏ.

Mai cười nói: Chăn bò mà ngủ như rứa thì có ngày mất bò.

Nhân đứng dậy đến ôm Mai, dụi mặt vào ngực, vào cổ rồi khắp mặt.

Mai nói: Ngồi xuống, sợ người ta thấy.

– Làng ở xa, đây chỉ có đồi cỏ với mấy con bò – vừa nói Nhân vừa kéo Mai ngồi xuống, vuốt  áo dính vào lưng do mồ hôi, rồi kéo vạt áo luồn tay vào lưng: Đã lâu lắm hôm nay mới thấy lại làn da trắng mịn này. Ngày đầu đi với em từ chợ Hương Điền về Đại Lộc, lớp vải nâu bạc màu cũng dính vào lưng. Lúc đó anh nhìn ngang và tưởng tượng, hôm nay thì không phải tưởng tượng – Nhân cúi xuống cắn vào lưng chỗ sát cạp quần.

Mai nhìn ra xa, chỉ thấy bụi cây lúp súp với  3 con bò nên đưa tay cởi mấy khuy áo ngực, kéo đầu Nhân vào ngực nói: Cắn cho nát ra đi, để ở nhà mãi phí hoài.

Nhân đứng dậy kéo Mai lên nói: Đi xuống dưới này.

Đi chừng trên 200 thước, Nhân đưa Mai vào một túp lều mà anh thường ngủ trưa cùng với mấy con bò buộc gần lều.

Mai nằm xuống cái sạp gỗ, tụt quần đẩy xuống dưới chân, tay cởi nhanh những khuy áo và cái nịt ngực, dạng rộng hai đùi nhìn Nhân với đôi mắt dại thất thần.

Nhân nhìn hai cái đùi tròn lớn trắng nhễ nhại đến nhòa mắt. Cái thân thể thân thiết kia sao lại mới lạ. Mấy năm trong bóng tối của nhà tù, đêm đêm Nhân vẫn hồi tưởng cái thân thể như bức tượng trắng mịn, mềm ấm cùng những tiếng nói nghẹn ngào của Mai. Tưởng chẳng còn bao giờ thấy nữa thì thân thể đó đang mở rộng thiêu đốt đôi mắt Nhân.

9

Đới đứng nhìn cái sân đầy người và nhìn lên dải cát cao, nơi trước kia là căn cứ Đại Lộc. Đời lính không có chi vui, nhưng sao anh luôn bùi ngùi nhìn lại nơi anh sống trong căn hầm bằng bao cát và những đêm gác, nghe động tĩnh quanh mình. Đất Đại Lộc hiền hòa, anh chưa gặp trận chiến ở đây mà chỉ gặp những cô gái Đại Lộc duyên dáng, đúng với câu dân ở đây thường nói – Trai Vĩnh Xương, gái Đại Lộc –  mà ông thầy của anh đã bị níu cẳng trong cái vườn dưa leo. Nay vườn dưa không còn, chỉ còn cô gái hái dưa với khung cảnh đầy người mà anh thấy vui mỗi khi đến đây. Anh đến một cái bàn trống ở góc sân.

Cô tiếp viên đến vui vẻ: Chào anh Đới. Đã khá lâu không thấy anh đến cà phê Đại Lộc.

Đới cười nói: Chào O Đường. O cho tôi phin sữa và bao thuốc Samit.

Mai đem cái khay để xuống bàn: Anh đến thật đúng lúc. Tôi đang mong.

Đới hỏi: Có việc chi mà chị mong?

Mai đáp: Không có chi quan trọng, nhưng mong để biết tin ông Nhân.

Đới nói: Em mới đi thăm ông tuần trước. Ông khỏe mạnh, chỉ buồn cười là trước kia coi trên 100 lính thì nay coi 3 con bò.

Mai nói: Anh buồn cười, nhưng ổng thì nói là may mắn mới được mấy ông cán bộ cho đi chăn bò. Việc đó nhàn nhã, thảnh thơi, chớ đi làm rẫy thì cực nhọc mưa nắng.

Đới cười: Em nói đùa thôi, chớ trong tù mà được một việc nhàn như rứa thì còn chi bằng – Anh lấy phin ra, chế thêm nước trong bình thủy, uống mấy hớp, rồi nói: Em bàn tiếp với chị chuyện tuần trước.

Mai nói: Việc ni, tất cả là do anh. Anh cần chi cứ nói. Tôi làm được tới mô sẽ cố.

Đới nói: Việc ni chỉ trong gia đình em với gia đình ông anh họ. Em với ông ấy chung ghe đi đánh cá. Chiếc ghe đi được 15 người. Thợ máy là ông anh họ, gia đình hai vợ chồng với con 6 tuổi. Ông hoa tiêu là là trung úy Hải quân, gia đình hai vợ chồng với một con 5 tuổi. Tất cả 4 gia đình là 10 người. Chiếc ghe còn tốt, nhưng cần thay máy. Mình phải thay máy mới với công xuất lớn. Em cần thêm một số tiền để mua máy mới. Mua dầu nhớt trữ và lương thực. Ở Hải Nhuận thì mình đánh đột xuất chớ không mua bãi bến.

Mai hỏi: Anh cần thêm bao nhiêu. Mình là người nhà cùng lo việc. Anh cứ nói rõ, tôi sẽ cố.

Đới đáp: Em cần thêm 3 cây để mua máy. Gần đến ngày khởi sự mình sẽ đóng góp chung để mua dầu nhớt, lương thực.

Mai nói: Số đó thì không khó, nhưng tôi để rất kỹ, phải đêm mới lấy được. Ba ngày nữa anh tới tôi đưa – Mai ngừng một lúc rồi hỏi: Khi mô thì mình có thể đánh được?

Đới đáp: Đánh sau tết, vì sau tết là mùa gió đông nam, dân biển gọi là gió nồm. Biển êm, đôi khi gặp sóng lớn, nhưng ít khi có bão. Mình đi Phi sẽ đụng sóng ngang, nhưng dân đi đánh cá thì có kinh nghiệm đối phó với loại sóng ni.

Mai hỏi: Từ đây đi Phi mất bao nhiêu ngày?

Đới đáp: Ông trung úy hoa tiêu cho biểt là với máy công xuất lớn, biển thuận gió hòa thì mất chừng 5 hay 6 ngày. Trước kia ông ấy đã lái tàu Hải quân qua Phi nhiều lần.

Mai hỏi: Ai giới thiệu mà anh biết ông?

Đới đáp: Người bạn Hải quân, cũng dân Hải Nhuận. Anh ta cũng đang tính chuyện như mình. Ghe của họ lớn và đi nhiều người hơn.

Mai nhìn Đới một lúc: Anh tính ra răng ngày đưa ông Nhân trốn để về Hải Nhuận?

Đới đáp: Chuyện ni thì em tính kỹ rồi. Ngày nớ, em với ông sẽ qua phà Tuần, rồi đi xe ôm về Huế. Ông phải thay quần áo em mang theo. Buổi trưa xuống tàu về Hương Điền. Tới Hương Điền, em sẽ đưa ổng vô nhà một người bạn thân ở gần quận. Tối chừng 8, 9 giờ đi về nhà em. Nhà có gác, ổng sẽ ở trên gác cho tới hôm sau. Buổi tối chị ra nhà em, đến đêm em đưa anh chị lên ghe. Ông hoa tiêu cũng đi như rứa, nhưng đi với ông anh.

Mai suy nghĩ một lúc, rồi nói: Việc qua phà phải cẩn thận, dễ gặp Công an. Anh tính cho ông mặc quần áo ra răng. Theo tôi thì cho ổng mặc quần áo bình thường để người ta khỏi để ý. Cho ổng đeo kính và đội mũ để khuôn mặt khác đi. Tiện đây, tôi sẽ đưa anh quần áo, mũ vải, giày và kính. Ông gầy, nhưng quần áo của ông thì vừa vặn hơn. Ngày anh đến lấy tiền, tôi sẽ đưa mấy thứ nớ cho anh. Thật phúc của ổng lớn nên gặp được anh. Có người lính nào mà lo cho ông thầy của mình như rứa. Có anh chớ riêng tôi thì chẳng biết xoay sở ra răng.

Đới nói: Ổng nghiêm minh, rất công bằng và thương lính. Còn với em, ông coi như anh em. Đi đâu một bước là kêu Đới. Em nấu cơm và ăn với ông. Mỗi tháng lãnh lương xong là bảo đi phép để đem tiền về nhà. Trước kia ông thương em ra răng thì chừ em cũng thương ông như rứa. Ngày đầu gặp chị, ông kết ngay. Em  nghĩ ông rất may mắn gặp được chị. Dù hoàn cảnh không thể cưới xin, nhưng ông phúc lớn có được một người vợ như chị. Chị vô bán hàng. Chừ em về.

Cám ơn lời khen của anh – Mai nói rồi đứng dậy đi vô.

Đới cười khi thấy nhiều ông nhìn theo Mai và nghĩ thầm họ nhìn theo là tự nhiên. Mông đó, chân đó, ngực đó, ai mà không phải nhìn. Đới cũng thấy mê, mỗi lần tới đây nhìn Mai với cái mông lớn săn chắc và những bước đi với hai cái đùi hằn lên lớp vải đen mỏng rất khêu gợi. Nhiều khi nhìn và tưởng tượng thêm, nhưng Đới lại xóa đi ngay. Mai đẹp với thân hình khêu gợi, nhưng là vợ của ông thầy. Được ngồi gần và ngửi thấy mùi thơm lạ phảng phất của Mai, Đới hiểu đó là là mùi thơm da thịt của phụ nữ như người ta thường nói, nhưng anh không gặp mùi thơm đó ở một người nào khác. Vợ Đới cũng có thân thể nở nang, vú lớn, mông lớn, nhưng hơi xệ, vì phụ nữ Hải Nhuận hàng ngày phải đi trên cát, nhưng anh chỉ ngửi thấy mùi nồng nồng khi nằm bên cạnh vợ. Vì thế Đới nghĩ ông Nhân may mắn gặp được một thôn nữ có mùi thơm quyến rũ của da thịt, đẹp người, đẹp nết mà tình thì quá sâu đậm.

10

Khoảng 11 giờ đêm, mọi người đã xuống ghe yên ổn. Lúc đầu, Đới tính khởi hành liền, nhưng ông Dụng, anh họ Đới, đã thay đổi. Ông nói với Đới: Giờ ni đi không an toàn. Gặp tàu của nó, mình bị lộ ngay. Đợi đến gần sáng, mình ra khơi như đi đánh cá cùng với các ghe khác thì yên ổn hơn.

Đới thấy hợp lý nên nói: Anh cẩn thận như rứa đúng. Vậy đến 4 giờ sáng mình khởi hành.

Sau mấy năm, đêm nay Nhân mới được nằm bên cạnh vợ trong một chuyến vượt biển tìm đất sống. Anh thao thức nghĩ đến tương lai, và hy vọng cuộc phiêu lưu thuận buồm xuôi gió.

Khi chiếc ghe ra khơi, Nhân nôn nao theo tiếng máy nổ. Lúc nhìn thấy ánh sáng, anh nghĩ là ghe đã ra khơi rất xa, nên lên cửa hầm chui ra ngoài. Nhân lóa mắt với ánh mặt trời và màu xanh của biển. Anh ngồi một lúc cho quen với ánh sáng, mới đi tới gần mũi ghe, ngồi xuống đống dây với cái phao đen lớn, và vui với ý nghĩ là tìm được một chỗ rất thoải mái để nằm, ngồi nhìn chiếc ghe rẽ sóng với biển trời mênh mông.

Mai ra khỏi hầm ghe, nhưng đi không vững nên ngồi lê đến chỗ Nhân, nói: Anh kiếm được một chỗ tốt quá. Trong khoang mấy đứa trẻ và người lớn say sóng đang nôn mửa.

Nhân nói: Ít người tránh được say sóng. Như vậy em cũng như anh, sóng này không ăn thua gì với mình. Em ngồi đây để anh vào lấy mũ và áo mưa. Ngồi ngoài này thoáng mát tốt hơn. Ngồi trong hầm dễ bị say sóng.

Ghe đã đi được 5 ngày, có ngày biển êm, có ngày sóng lớn, nhưng chiếc ghe vẫn rẽ sóng với tiếng máy êm như tiếng nhạc giữa biển. Nhân nói: Chừng một ngày một đêm nữa là mình tới Phi. Cuộc vượt biển êm ả không ngờ. Đới với ông Dụng làm nghề biển nên biết mùa nào biển động, mùa nào biển êm. Thành ra chuyến phiêu lưu như đi du lịch qua đại dương. Từ nhà tù bơi qua biển. Thế là mình có cơ hội đi dạo đường phố Manila trước khi qua Mỹ.

Mai nói: Qua báo chí, em biết ở Manila có trại tỵ nạn của người Việt vượt biển tới Phi, có tên trại, nhưng em quên.

Nhân nói: Anh ở trong tù nhưng cũng biết mấy nước Thái Lan, Mã Lai, Singapore và Indonesia đều có trại tỵ nạn cho người Việt do Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc thiết lập. Người Việt thoát biển là được Liên Hiệp Quốc đón nhận. Người Việt liều mạng vượt biển chết nhiều quá đã làm động lòng thế giới nên Liên Hiệp Quốc mới thiết lập những trại tỵ nạn đó. Ta đi từ miền Nam, xuống phía nam sẽ tới trại Bidong, Galang. Ta đi từ Thừa Thiên băng qua Biển Đông, nên sẽ tới Palawan, một đảo lớn của Phi.

Hai người nói nhiều về tương lai, không ngờ chiến tranh kết thúc lại đưa người Việt đi khắp thế giới. Đôi chân cô thôn nữ của Đại Lộc chỉ quen con đường từ Đại Lộc xuống chợ Hương Điền lại có cơ hội đi trên thành phố Mỹ.

Suốt ngày thứ năm trời nắng, nhưng đến chiều thì bầu trời bắt đầu hiện ra những đám mây đen, dần dần mây đen che phủ cả bầu trời. Nhìn bộ mặt căng thẳng của Đới và ông Dụng, Nhân biết họ lo và nhìn trời đen tối, Nhân cũng cảm được tai họa sắp tới của chiếc ghe như chiếc lá giữa đại dương. Khi trời sụp tối thì bắt đầu mưa và biển động mạnh với những cơn gió tạo thành những con sóng lớn làm ngả nghiêng chiếc ghe. Nhân lấy trong túi quần một cuộn dây ni lông và cái kéo nhỏ, bảo Mai: Thấy nhà Đới có mấy cuộn dây ni lông, nghĩ đến kinh nghiệm đi rừng, anh lấy hai cuộn và cái kéo, không ngờ hữu dụng. Em cắt một đoạn dài buộc 1 đầu vào thân bụng, 1 đầu buộc vào phao để giữ mình với phao nếu không sóng này sẽ hất mình ra khỏi phao ngay. Hai người buộc dây xong, Nhân gọi Đới, đưa 2 cuộn dây và cái kéo, bảo mọi người cột thân vào phao. Ghe vẫn đi trong đêm với kinh nghiệm của ông tài công. Nhưng càng lúc mưa càng lớn, với gió và sóng lớn trùm lên chiếc ghe. Nhân nghĩ đến cái chết giữa đại dương với Mai, sống chết có nhau và yên lòng chờ cái chết. Ghe chạy được chừng một tiếng nữa thì liên tục bị nghiêng về một bên, rồi một con sóng trào qua ghe và chiếc ghe nghiêng thẳng hất người xuống biển. Sóng phủ người và phao, nhưng Nhân bình tĩnh ôm lấy phao, lấy tay sờ, biết Mai cũng ôm được phao. Gió giật từng cơn và những con sóng như cái nhà dập xuống người và phao. Mỗi lần ra khỏi sóng là Nhân thở để chờ con sóng khác. Anh biết ghe chạy được 5 ngày thì đã đến gần những đảo của Phi. Khi chiếc phao chưa đụng sóng, anh cố lần tới gần Mai, đưa tay lần coi lại nút dây buộc vào vào người và phao. Anh thấy Mai vẫn ôm được phao và biết Mai bơi rẩt thạo vì ở gần phá nên yên lòng. Gió, nước vùi dập, nói không được, nhưng cố lấy tay đụng vào lưng Mai. Nhân không sợ chìm vì có phao, nhưng nước biển quá lạnh, anh sợ cả hai sẽ chết vì lạnh. Vì đã nghĩ nhiều đến cái chết giữa biển bão tố nên anh bình tĩnh chờ cái chết đến với hai người. Cứ thế gió, sóng vùi dập, hai người vẫn bám trôi theo phao lên cao và dập xuống. Anh đến sát Mai nói lớn vào bên tai: Hai chân đạp mạnh như bơi để cho người nóng lên. Khoảng hai giơ sau gió dịu xuống, trời hết mưa. Nhân đến gần Mai hỏi: Em còn sức chịu đựng không? Mai nói lớn: Còn, không răng mô.

Nhân mừng, không ngờ hai người đã chịu được cơn bão tố giữa biển. Khi biển chỉ còn những con sóng nhỏ, Nhân đến bên Mai bảo: Để anh đỡ, em trườn lên phao nằm. Nhân lấy tay đỡ hai đùi Mai đẩy cho nàng trườn lên phao. Cái trườn nhẹ nhàng, Mai nằm gọn trên phao.

Nắng lên, biển trở lại hiền hòa, hai người trôi chừng 1 giờ nữa thì Nhân nhìn thấy dải núi theo hướng trôi vào của cái phao. Anh đập vào đùi Mai nói lớn: Mình sống rồi, sắp tới đảo. Nhân đạp chân mạnh cho phao đi nhanh hơn. Khoảng hơn 1 giờ nữa, với mặt trời lên cao, chiếc phao dạt vào bãi cát của hòn đảo.

Nhân đứng dậy, đẩy cái phao lên thêm mấy thước, rồi đỡ Mai đứng xuống. Hai người cởi dây buộc vào phao. Nhân dìu Mai đi qua bãi cát, tới sát bờ đá. Đảo nhỏ, không chắc có người. Anh bảo Mai: Em cởi quần áo để anh vắt hết nước cho mau khô. Mặc lại quần áo cho Mai, Nhân vắt quần áo của mình. Hai người ngồi sưởi nắng, nhìn ra khơi. Trời xanh, nước biển xanh, nhưng không thấy một con tàu.

Nhân nói: Không ngờ chúng ta chịu đựng được cái lạnh của nước biển suốt cả đêm. Anh nghĩ chúng ta sẽ chết vì lạnh.

Mai nói: Em cũng nghĩ rứa.

Dưới ánh nắng hơn 1 giờ, hai người thấy khỏe lại. Nhân tới bụi cây, bẻ hai nhánh dài hơn một thước dùng làm vũ khí, cùng Mai đi vào một khu, một bên là núi đá, một bên là rừng. Đi vào khoảng hơn 100 mét, Nhân reo lên: Có chuối, có khoai mì em ơi! Vừa nói, Nhân đi nhanh lên phía có lá chuối. Mấy bụi chuối, tới trên 20 cây, nhiều cây mang buồng chuối chín, bên cạnh đó là mảnh đất rộng trồng khoai mì. Đi qua khu trồng mì là khu trồng  khoai lang, dây lang mọc lan lấn cả đường đi giữa những luống lang.

Nhân bẻ một buồng chuối chín, đem lại chỗ Mai.

Nhân nói: Dân Phi đã lên đảo này làm ăn, nhưng có lẽ đảo nhỏ ở quá xa đất liền, nên họ phải bỏ. Nhân bẻ một trái chuối đưa cho Mai: Ăn đi em.

Vừa ăn Mai vừa nói: Chúng ta sống, nhưng đảo nhỏ không người, lấy mô quần áo, thuốc men.

Nhân nói: Em đừng lo xa. Chúng ta sẽ đốt một đống lửa lớn ở phía ngoài. Lửa cháy nghi ngút khói lên, sẽ có ngày tàu Hải quân Phi hay tàu đánh cá Phi thấy khói và họ sẽ vào đảo cứu mình.

Mai nói: Em sợ tàu đánh cá vô đây, thấy em như thế ni, họ sẽ đánh anh chết, rồi cưỡng hiếp em.

Nhân nhìn Mai, thấy điều Mai lo có thể xảy ra. Mai đẹp mà thân thể khêu gợi quá. Trầm tư một lúc lâu, Nhân nói: Chuyện đó có thể xảy ra, vì em đẹp quá, nhưng đành chịu chớ biết sao. Chẳng lẽ vì sợ mà chúng ta thành người tiền sử trên đảo này.

Mai nói: Anh chết, em cắn lưỡi chết theo chớ không để chúng đụng vô người em.

Nhân nói: Thôi, chuyện đó còn xa, cứ để đó. Bây giờ đi vào trong này một đoạn nữa xem địa thế – nói rồi kéo Mai đi. Vào khoảng 200 mét, Nhân thấy bên núi đá có một cái hang. Đi vào thấy hang khá rộng, mỗi chiều khoảng 3 mét. Anh nói: Mình ở đây. Lấy cỏ và lá chuối làm nệm.

Đi vào khoảng 50 mét nữa, có một dòng suối chảy vào một chỗ trũng như cái ao nhỏ, chung quanh là đá, nước trong veo. Nhân nghĩ đảo nhỏ ở biển, chắc nước không độc. Vậy là có nước ngọt để ăn, tắm giặt. Vào một đoạn nữa thấy cây rừng ngăn mất lối.

Đi trở ra, Nhân kéo Mai tìm chỗ thấp bước xuống ao đá và nói: Tắm và rũ quần áo cho hết nước mặn.

Cả hai tắm và giặt quần áo. Nhân nhìn Mai nói: Thân thể em thế kia mà rồi thành người rừng.

Mai nói: Thành người rừng thì cũng rứa, vẫn những cái ni – vừa nói vừa chỉ vú và chỉ xuống bụng.

Hai người mặc lại quần áo ướt, đi ra bãi cát để  ngồi phơi quần áo. Nhưng tới bãi cát, Mai nói: Đi lại mau khô hơn anh ạ.

Nhân gật đầu, cầm tay Mai đi xuống phía dưới chỗ cát ướt để đi cho dễ. Đi lên phía trên được chừng hơn trăm mét, Nhân thấy nhiều miếng gỗ trôi dạt trên cát, nhận ra đó là những miếng ván trên ghe. Mai cũng nói: Ván trên ghe của mình. Đi lên trăm mét nữa, cả hai reo lên: Đồ trên ghe, rồi cúi xuống kéo mấy cái thùng thiếc có nắp lên cát khô. Nhân đi nhặt những bọc quần áo, những thùng mì gói, rồi nói: Em mang bọc quần áo lên trên kia ngồi nghỉ. Anh đem mấy thứ này lên sau.

Cả buổi sáng Nhân đi dọc bãi biển nhặt những thứ trên ghe trôi dạt vào và hy vọng gia đình mấy người trên ghe có thể trôi dạt vào một đảo khác. Đến buổi chiều từ trong hang đi xuống bãi biển để nhặt nốt những thứ còn để lại trên bãi cát, Nhân thấy chiếc ghe trôi vào đã mắc cạn cách bờ cát khô khoảng 6, 70 thước. Anh vui mừng đi nhanh về gọi Mai: Em ơi, chiếc ghe cũng trôi vào đây. Mai reo lên: Rứa thì may quá.

Hai người đi nhanh ra biển. Nhân nói: Em ở trên này để anh xuống đẩy nó lên thêm – vừa nói anh vừa cởi quần áo đưa cho Mai.

Lợi dụng theo mỗi lớp sóng, Nhân đẩy chiếc ghe vào. Khi ghe đã lên hết mức, không đẩy nổi nữa, Nhân vào trong ghe lấy những thứ còn vướng lại trong ghe. Chiếc ghe chỉ lật nghiêng một bên, nhờ chiếc cột buồm cao giữ thăng bằng, chớ không lật úp, nên nhiều thứ dồn chồng chất lên nhau và bị vướng lại trên ghe. Nhân nhặt những thứ nhẹ đem lên bãi cát trước, rồi đến những thứ nặng. Đụng đến một thùng, Nhân reo vui khi mở nắp thấy cưa tay, xẻng nhà binh, búa, kìm…. Quá nhiều thứ, nên cả ngày hôm sau anh mới đem lên hết. Nhìn những thứ Mai bày ra trước hang, Nhân nói: Quần áo, mùng mền dùng được mấy năm. Chỉ thiếu thuốc. Đồ đạc, nồi xoong này thì dùng cả đời. Tất cả trôi vào đây. Nếu mấy gia đình kia trôi được vào một đảo nào đó thì họ không có được một thứ gì. Nhìn những tấm vải bạt sẽ trải làm nệm, Nhân nghĩ, thoát đời tù ra hoang đảo, nhưng anh có Mai. Như thế là đủ, anh không mong gì hơn nữa.

Nhặt được một thanh sắt dài trên ghe, Nhân lấy búa đập cho nhỏ, đem mài nhọn thành một cây xiên. Hàng ngày đào giun dưới bụi chuối, buộc dây thả xuống chỗ mấy tảng đá lớn ven biển. Cá vào đớp mồi, anh dùng cái xiên đâm ngang, ít khi trượt, nên ngày nào cũng có cá nấu canh, cá nướng. Chỉ sau một tháng anh thấy Mai khỏe mạnh, hồng hào hơn ở Huế. Và nàng cũng đòi hỏi nhiều hơn. Trong cái hang, đêm đêm với ánh lửa của đống lửa đốt ngoài cửa hang, anh mê mẩn với thân thể Mai và những tiếng nói mê sảng của nàng… Khi mới lên đảo, anh tính đốt một đống lửa lớn cho khói lên cao để tàu đánh cá thấy khói sẽ vào cứu. Nhưng sau khi nghe Mai nói là bọn đánh cá vào thấy Mai, sẽ đánh anh chết để cướp Mai, nên anh bỏ ý định đó. Bây giờ có nhiều quần áo, vật dụng cho đời sống trên đảo, nên anh nói với Mai là cứ sống ở đây vài năm, rồi chết cũng được.

Hòn đảo dài khoảng hơn cây số, núi cao chừng trăm mét, có nhiều thứ chim Nhân không biết tên. Ban ngày nghe chim hót, anh biết có loại chim “bắt cô trói cột” thường nghe ở vùng quê anh. Anh và Mai đã đi quanh đảo sang đến bờ bên kia và thấy cách xa đảo của hai người khoảng cây số là một đảo lớn dài hút mắt với núi cao. Anh đoán đây là những đảo phía trước của quần đảo Palawan.

Có cưa, ván và đinh, Nhân đóng một cái cửa hang để ngăn rắn vào hang và mỗi tối đốt một đống lửa trước hang để ngăn thú dữ như cọp và heo rừng, tuy anh chưa thấy thú dữ mà chỉ thấy mấy con nai. Trên ghe còn khẩu Carbine M2 với 10 băng đạn. Anh rửa khẩu súng bằng nước suối cho hết nước mặn, bôi nhớt, rồi bắn thử. Súng nổ ngon lành. Có thể đi săn, nhưng anh không muốn bắn những con thú hiền như hươu nai, vì đã có cá.

Hang gần cái ao đá, hàng ngày nhìn Mai tắm giữa núi rừng và biển, Nhân tưởng như mình đang sống trong thế giới thần tiên. Mỗi tuần đôi, ba lần hai người xuống biển bơi, vùng vẫy dưới nước biển xanh cả giờ. Đời sống khỏe, phóng túng giữa đảo và biển khiến hai người như quên đất liền. Sống như thế được gần một năm, bỗng một ngày Mai lên cơn sốt, người nóng toát mồ hôi, bỏ ăn. Nhân nghĩ đau vài ngày rồi hết. Nhưng không, qua ngày thứ nhì, cơn sốt tăng thêm, người Mai nóng hầm hập như lửa đốt. Nhân lấy vải thấm nước lạnh phủ vào trán và bụng Mai. Cơn sốt không giảm suốt đêm  ngày. Mỗi lần tỉnh lại, Mai chỉ nói một câu: Em không muốn chết vì thương anh cô độc ở đảo. Mỗi lần Mai nói, Nhân đáp: Em không chết được, phải sống với anh.

Nhân nghĩ chắc Mai bị muỗi độc đốt, chớ nàng khỏe mạnh hồng hào, bơi cả giờ dưới biển. Tới ngày thứ ba, nàng sốt ly bì và ra đi trong tay Nhân. Anh ngồi ôm Mai cả đêm. Ở giữa biển bão tố không chết mà chết trong cái hang yên ấm. Nhân để Mai nằm trong hang hai ngày. Qua ngày thứ ba anh mới thay quần áo cho Mai, bọc nàng trong tấm vải bạt, đem nàng đặt xuống huyệt anh đào gần ao đá. Khi lấp đất, anh thấy con bướm trắng bay lượn quanh mồ. Con bướm lạ, anh chưa hề thấy, sao hôm nay lại bay ở đây. Chẳng lẽ đó là hồn Mai hiện hình cho anh thấy. Người đi thương người ở lại, còn người ở lại mang cái đau cho tới chết. Trước kia, Nhân sợ những người đánh cá vào đập anh chết để cướp Mai, nên không đốt lửa. Bây giờ hết sợ, nhưng anh cũng không muốn trở lại đất liền. Anh muốn sống với nấm mồ bên cạnh cái hang của hai người. Từ đó Nhân âm thầm quanh quẩn trong thế giới núi, rừng, biển và ngôi mộ đã đầy cỏ non vàng nhạt, mỗi chiều ra bãi cát nhìn mặt trời đi xuống biển và thường cầu cho bão tố nổi lên để anh được sống lại đêm cùng Mai lăn lộn với sóng giữa đại dương. Sao đêm đó hai người không chết để hai xác trôi giạt vào hòn đảo này?

 Việt Dương
 (5/31/26)